Tập 1Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba

Cột đồng Mã Viện và chính sách đồng hoá

Truyện Mã Viện trong Hậu Hán thư chép ông sửa luật, chia huyện, lấy trống đồng đúc ngựa, còn cột đồng thì chỉ có trong lời chú. Lời thề gán cho ông về cây cột, trong những sách đã tra, chép sớm nhất ở thế kỷ XII, và khi ấy chưa phải là chữ gãy. Còn chuyện đồng hoá thì một viên quan nhà Ngô tả bằng chính lời mình, trong tờ sớ mà sử Việt chép lại nhưng bỏ đi những câu nặng nhất.

2 lớp · 23 nguồn · Giọng đọc AI

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tập trước dừng lại khi kéo quân về kinh. Ông để lại gì ở Giao Chỉ? Nhiều người sẽ trả lời ngay: một cây cột đồng khắc sáu chữ "đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" — cột đồng gãy thì Giao Chỉ diệt vong.

Nhưng chính văn truyện Mã Viện trong kể khác: một cuộc sửa luật, hai huyện mới, một con ngựa đúc bằng trống đồng. Không có cột đồng nào. Còn câu thề thì phải qua hơn một nghìn năm sách vở mới gặp.1

Hơn mười việc, không biết là việc gì

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Dẹp xong Cửu Chân, Mã Viện tâu rằng huyện có ba vạn hai nghìn hộ, cõi xa cách huyện đường hơn nghìn dặm, xin chia làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Triều đình chấp thuận. Truyện chép tiếp: Viện đi qua đâu là sửa thành quách, đào ngòi tưới ruộng, để làm lợi cho dân.1

Rồi đến đoạn hay được nhắc nhất. Dịch sát:

Tâu bày hơn mười việc luật Việt vênh với luật Hán, cùng người Việt nói rõ lại chế độ cũ để ràng buộc họ; từ đó về sau, người Lạc Việt vâng làm theo phép cũ của Mã tướng quân.1

Cả đoạn chỉ có ba mươi tư chữ Hán, và sách không nói mười mấy việc ấy là việc gì. Ta biết người Lạc Việt về sau làm theo, nhưng không biết họ làm theo điều gì. Lời chú đời Đường của chỉ giảng thêm một chữ: Lạc là tên khác của Việt.2

, bộ sử nhà Tấn, về sau tóm tất cả vào một câu: Hậu Hán, Mã Viện bình định đất Giao, mới bắt đầu sắp đặt dựng thành quách, đặt làng xóm.3

Trống đồng thành ngựa

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Viện thích cưỡi ngựa, giỏi xem ngựa hay. Ở Giao Chỉ ông lấy được trống đồng của người Lạc Việt, bèn đúc thành khuôn mẫu ngựa, đem về dâng lên. Con ngựa cao ba thước năm tấc, được chiếu đặt dưới điện Tuyên Đức làm mẫu cho ngựa hay.1

dẫn sách Lâm Ấp ký kể cùng việc ấy, thêm một điều về cái tên: có vùng gọi là Đồng Cổ, tức đất Lạc Việt, có trống đồng nên được tên ấy; Mã Viện lấy trống của họ để đúc ngựa đồng.4

Trống dùng để làm gì thì phải tìm trong lời chú. Lý Hiền dẫn Quảng Châu ký của họ Bùi, tả trống của người Ly, người Lão: trống lấy cao lớn làm quý, mặt rộng hơn một trượng; đúc xong thì treo ở sân, bày rượu mời người tới đầy cửa; con gái nhà giàu cầm trâm vàng bạc gõ trống, gõ xong để trâm lại tặng chủ nhà.5 Lời chú ấy nói về người Ly, người Lão, không nói đó là trống của người Lạc Việt.

Ở một đầu là cái trống treo giữa sân cho người tụ về, như lời chú tả. Ở đầu kia là khuôn mẫu ngựa đặt dưới một cung điện phương Bắc.

Cột đồng: một câu trong lời chú

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Giờ đến cây cột. Ở đúng chỗ kể việc bình định xong, chính văn Hậu Hán thư chỉ có bốn chữ: phía nam đèo đều bình.1 Chữ cột đồng không xuất hiện lần nào trong chính văn truyện Mã Viện, cũng không trong thiên chép về các tộc phương Nam.6

Nó chỉ có một lần, trong lời chú Lý Hiền gắn vào bốn chữ ấy, dẫn sách Quảng Châu ký: Viện đến Giao Chỉ, dựng cột đồng, làm cõi cực của nhà Hán.7

Quảng Châu ký là một sách địa phương đã mất; Lý Hiền viết ở thế kỷ VII, hơn sáu trăm năm sau Mã Viện. Cây cột đi vào bộ chính sử về Mã Viện qua cửa sau: qua lời chú, không qua lời người soạn sử.

Hai cột ở cõi nam Tượng Lâm

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Sớm hơn và kỹ hơn là Thuỷ kinh chú của Lịch Đạo Nguyên, đầu thế kỷ VI. Ông xếp liền ba lời.

Lời của chính ông chỉ nói Mã Viện dựng một cây mốc bằng kim loại làm giới hạn cực nam — chưa dùng chữ cột đồng; phải tới thế kỷ XIX mới có lời giảng rằng cây mốc ấy là cột đồng.48

Lời dẫn từ thư của Du Ích Kỳ: Mã Viện dựng hai cột đồng ở phía bắc bờ Lâm Ấp, có hơn mười nhà lính ở lại không về, sống bên kia sông Thọ Linh, đối diện cột đồng.4

Lời dẫn từ sách Lâm Ấp ký: năm 43, Mã Viện dựng hai cột đồng ở cõi nam huyện , chia ranh với nước Tây Đồ, làm biên cương phía nam của nhà Hán.4

Tượng Lâm là huyện cực nam của quận Nhật Nam, giáp . Cả hai lời có dẫn nguồn đều nói hai cột ở tận phía nam ấy, và không lời nào có câu thề. Trên hai quyển Thuỷ kinh chú đã tra, chữ cột đồng xuất hiện bốn lần, cả bốn đều trong đoạn này, không lần nào đi với chữ gãy hay chữ diệt.4

Lời chú chữ nhỏ trong Tấn thư, dưới tên huyện Tượng Lâm, cũng chép: nay có cột đồng, cũng là nhà Hán đặt làm mốc giới — không nêu tên Mã Viện.9

Những người ở lại

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Thư của Du Ích Kỳ kể tiếp về đám lính ở lại: đều họ Mã, tự lấy nhau trong nhóm, đến lúc viết thư đã có hai trăm hộ. Người Giao Châu gọi họ là , dân Mã lưu ngụ. Tiếng nói, cách ăn uống vẫn giống người Hoa.4

Rồi một câu đáng để ý: núi sông đổi dời, cột đồng nay đã ở trong biển, chỉ nhờ đám dân ấy mới nhận ra chỗ cũ.4 Ngay trong một bản chép sớm nhất còn lại, cây cột đã không còn ai trông thấy.

Cây cột nhân lên, rồi thành vật thiêng

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

về sau đếm được năm cột, do Mã Viện nhà Hán trồng.10 Cũng bộ ấy chép viên quan đời Đường là Mã Tổng dựng thêm hai cột đồng ở chỗ cũ của nhà Hán, khắc ghi đức nhà Đường, để tỏ mình là dòng dõi Phục Ba.11 Từ đây có hai lớp cột, của nhà Hán và của nhà Đường.

Còn đời Tống dẫn sách Lĩnh biểu lục kể chuyện viên thứ sử Ái Châu muốn nấu chảy cột đồng bán cho lái buôn người Hồ. Người bản xứ không biết cột do Viện đúc, lại cho là vật thần, khóc mà nói: sứ quân mà phá thì bọn tôi bị thần biển giết mất.12

Trong tầng sách ấy, người bản xứ khóc để giữ cột, chứ không ném đá vào nó.

Sử Việt đưa cột lên chính văn

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Trong Hậu Hán thư, cột đồng nằm ở lời chú. Sang sử Việt, nó lên chính văn. chép Mã Viện đuổi dư đảng tới Cư Phong, chúng hàng, bèn dựng cột đồng làm cõi cực.13 Toàn thư chép ở năm 43 rằng Viện bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán.14 Cả hai chỗ đều không có câu thề.

Câu thề mọc ra thế nào

Đời sau nhớ lại

Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.

Trong những sách người tra đã mở, câu thề xuất hiện lần đầu năm 1178, hơn một nghìn một trăm năm sau Mã Viện.

, sách ghi chép về vùng Lĩnh Nam của Chu Khứ Phi đời Tống, mở đầu bằng hai chữ nghe nói: ở cõi , động Cổ Sâm giáp giới An Nam, có cột đồng Mã Viện; người An Nam đi qua đều đặt một hòn đá, lâu thành gò. Thuyết ấy nói Phục Ba có lời thề: cột đồng trồi ra thì Giao Chỉ diệt. Đắp đá là vì sợ nó trồi ra.15

Cây cột lúc này ở Khâm Châu, không còn ở cõi nam Tượng Lâm. Động từ là trồi ra, chưa phải gãy. Và người kể chỉ nói mình nghe.15

Sang thế kỷ XIII, chép lại, và chữ đã đổi: cột đồng gãy thì người Giao diệt.16 Thế kỷ XIV, của Lê Tắc mở bằng xưa truyền, chép cột đồng gãy thì Giao Chỉ diệt, người Giao đi qua thì ném ngói đá vào.17

Toàn thư đưa chuyện vào lời chua, mở bằng tương truyền: người Việt ta đi qua lấy đá đắp vào, sợ nó gãy.18 Lý do đắp đá đã lật ngược: năm 1178 là để chôn cột xuống, ở Toàn thư là để giữ cột khỏi gãy.

Cương mục triều Nguyễn cũng chép câu thề trong lời chua. Nhưng các sử thần không tin cột ở Khâm Châu: họ ngờ một núi đá ở Phú Yên, lại tự bác ngay, rồi khép bằng câu của Thuỷ kinh chú — núi sông đổi dời, cột đồng chìm vào biển, lẽ có thể là vậy.8 Tức là họ nghiêng về phía nam, đúng hướng các sách thế kỷ V tới VII.

Đến của Trần Trọng Kim thì câu thề lên thẳng thân cột: Mã Viện dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt.19 Trong các bản đã tra, đây là lần đầu nó thành chữ khắc. Mọi tầng trước đều gọi nó là một lời thề được truyền lại.

Vài sách đời Tống chưa mở được, nên có thể còn một tầng sớm hơn năm 1178 chút ít. Nhưng mọi sách từ thế kỷ X trở về trước đã mở, dù có nói về cột đồng, đều không có câu thề.15

Đồng hoá, kể bằng miệng người cai trị

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Còn chuyện đồng hoá thì có một văn bản do chính người trong cuộc viết: tờ sớ của , quan nhà Ngô, được Trần Thọ chép nguyên trong . Ông từng tránh loạn sang Giao Châu từ lúc trẻ, về sau làm thái thú Hợp Phố rồi Giao Chỉ. Khi được gọi về, ông sợ người thay không xứng, bèn dâng sớ.20 Toàn thư xếp tờ sớ vào năm Tân Hợi, tức năm 231.21

Ông kể lịch sử giáo hoá từ đầu. Dịch sát:

Tiếng nói khác nhau, phải qua nhiều lần phiên dịch mới hiểu. Dân như cầm thú, lớn nhỏ không phân biệt, búi tóc hình dùi, đi chân đất, áo chui đầu, vạt trái. Từ đó về sau, dời khá nhiều tội nhân Trung Quốc tới ở lẫn vào giữa, dần cho học chữ, biết qua tiếng nói.20

Rồi đến và : dạy cày bừa, cho đội mũ đi giày, đặt quan mối lái, dựng trường học. Ông kết: từ đấy tới nay hơn bốn trăm năm, cũng đã hơi giống.20 Các quan hiệu sách Tứ khố thế kỷ XVIII ghi ở cuối quyển rằng từ Tích Quang, Nhâm Diên tới lúc ấy chưa tới ba trăm năm, con số ấy e là sai.22

Câu về tội nhân nghe quen: Hậu Hán thư, soạn sau tờ sớ này chừng hai trăm năm, có một câu gần như trùng từng chữ, mà một tập trước đã đọc.6

Sâu bọ, và của quý

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tiết Tống kể những gì ông thấy từ khi mới tới. Ở hai huyện thuộc Giao Chỉ và Đô Bàng thuộc Cửu Chân, anh chết thì em lấy chị dâu, đời đời thành tục, quan không cấm được. Rồi đến câu nặng nhất cả tờ sớ: cứ thế mà nói thì có thể gọi là sâu bọ, chỉ có cái mặt người thôi.20

Nhưng cũng tờ sớ ấy nói thật một điều. Triều đình, theo lời ông, quý ở chỗ đem về được của lạ phương xa — ngọc quý, hương liệu, ngà voi, sừng tê, đồi mồi, san hô, chim công — chứ không cần trông vào thuế má của đất ấy.20

Và ông kể tội quan lại. Châu Nhai bị bỏ vì quan trưởng thấy tóc dân đẹp, cạo lấy làm tóc giả. Thái thú Cửu Chân đánh chết một viên công tào, bị em người ấy đem quân bắn tên độc chết; đem quân đi đánh mà rốt cuộc không thắng. Thứ sử Chu Phù ép dân nộp thuế nặng, một con cá vàng thu một hộc thóc, trăm họ oán mà làm phản.20

Cùng một tờ sớ, người viết vừa gọi dân là sâu bọ, vừa thừa nhận nhiều cuộc nổi dậy bắt nguồn từ quan lại của chính triều mình.

Những câu sử Việt không chép lại

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tờ sớ có mặt trong sử Việt. Toàn thư chép lại ở năm Tân Hợi; Cương mục chép trong Tiền biên, gọi ông bằng tên tự là Tiết Kính Văn.2123

Nhưng cả hai đều bỏ đúng những câu miệt thị. Cầm thú, búi tóc hình dùi, áo chui đầu, chị dâu, sâu bọ — không chữ nào có trong phần chữ Hán của Toàn thư bản khắc, cũng không có trong Cương mục. Toàn thư đi thẳng từ câu Hán Vũ Đế giết Lữ Gia, mở chín quận, đặt thứ sử, sang câu dời tội nhân Trung Quốc tới ở lẫn, dần cho học chữ, biết qua lễ hoá. Còn những câu kể tội tham quan thì giữ nguyên.2123

Sách không nói vì sao, nên tập này không đoán. Chỉ nói được điều thấy trên trang: họ giữ phần kể tội người cai trị, và bỏ phần người cai trị chê người bị cai trị.

Cây cột đồng thì không ai còn thấy, nhưng lời thề về nó mỗi thế kỷ lại được viết chắc hơn. Tờ sớ thì còn nguyên văn, nhưng khi sang sử Việt đã mất đi những câu nặng nhất. Tập sau: Khởi nghĩa Bà Triệu (248).

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 24, Mã Viện liệt truyện, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  2. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 24, Mã Viện liệt truyện, lời chú của Lý Hiền về chữ Lạc

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  3. Tấn thư

    Bộ chính sử nhà Tấn soạn đầu đời Đường; có truyện riêng của Đào Hoàng, người trấn Giao Châu ba mươi năm, và truyện Lư Tuần, người chết ở bến sông Long Biên. · quyển 15, Địa lý chí hạ, mục Giao Châu, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  4. Thuỷ kinh chú

    Bộ sách chú giải sông ngòi của Trung Hoa, giữ lại nhiều đoạn trích từ sách đã mất, trong đó có Giao Châu ngoại vực ký. · quyển 36, thiên Ôn thuỷ, lời chú của Lịch Đạo Nguyên và các đoạn ông dẫn thư Du Ích Kỳ, Lâm Ấp ký

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  5. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 24, Mã Viện liệt truyện, lời chú của Lý Hiền dẫn Quảng Châu ký của họ Bùi về trống đồng

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  6. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 86, Nam Man Tây Nam Di liệt truyện, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  7. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 24, Mã Viện liệt truyện, lời chú của Lý Hiền dẫn Quảng Châu ký về cột đồng

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  8. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 2, năm Quý Mão, lời chua khảo về cột đồng

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  9. Tấn thư

    Bộ chính sử nhà Tấn soạn đầu đời Đường; có truyện riêng của Đào Hoàng, người trấn Giao Châu ba mươi năm, và truyện Lư Tuần, người chết ở bến sông Long Biên. · quyển 15, Địa lý chí hạ, mục Giao Châu, lời chú chữ nhỏ dưới huyện Tượng Lâm

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  10. Tân Đường thư

    Bộ sử nhà Đường soạn lại đời Tống; ghi năm lập An Nam đô hộ phủ, đồ thổ cống của phủ, và kể vụ 687 gọn hơn Cựu Đường thư, chỉ nêu Đinh Kiến mà không có Lý Tư Thận. · quyển 222 hạ, truyện Hoàn Vương, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  11. Tân Đường thư

    Bộ sử nhà Đường soạn lại đời Tống; ghi năm lập An Nam đô hộ phủ, đồ thổ cống của phủ, và kể vụ 687 gọn hơn Cựu Đường thư, chỉ nêu Đinh Kiến mà không có Lý Tư Thận. · quyển 163, truyện Mã Tổng, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  12. Thái Bình hoàn vũ ký

    Bộ địa chí đời Tống của Nhạc Sử, chép từng châu quận kèm di tích và chuyện cũ; quyển 171 gồm các châu phía nam như Ái Châu và Hoan Châu. · quyển 171, mục Ái Châu dẫn sách Lĩnh biểu lục

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  13. Việt sử lược

    Bộ sử cổ khuyết danh kể buổi lập quốc mà không hề nhắc tới rồng tiên hay họ Hồng Bàng. · quyển thượng, mục Lịch đại thủ nhậm, dưới tên Mã Viện, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  14. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 3, Kỷ thuộc Đông Hán, tờ 3b, chính văn năm Quý Mão

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  15. Lĩnh ngoại đại đáp

    Sách ghi chép về vùng Lĩnh Nam do một viên quan đời Tống soạn năm 1178; đoạn tả con kênh của Sử Lộc với ba mươi sáu cửa ngăn là mô tả của thế kỷ mười hai, về sau được sử Việt dẫn lại. · quyển 10, mục Cột đồng

    Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  16. Phương dư thắng lãm

    Sách địa chí đời Nam Tống của Chúc Mục; mục Khâm Châu chép lời thề gán cho Mã Viện ở dạng cột đồng gãy thì người Giao diệt. · quyển 42, mục Khâm Châu

    Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  17. An Nam chí lược

    Sách của Lê Tắc chép về nước Việt, xong năm 1335; đoạn kể cuộc đánh Lý Bí đời Lương đi theo đúng lời sử Trung Hoa. · quyển 1, mục Cổ tích

    Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  18. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 3, Kỷ thuộc Đông Hán, tờ 3b, lời chua về cột đồng

    Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  19. Việt Nam sử lược

    Bộ sử phổ thông bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên được đọc rộng rãi; tác giả tự đặt dấu hỏi sau niên đại 2879 trước Công nguyên. · phần thuộc Đông Hán, trang 41 bản in, trang 53 bản chụp

    Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  20. Tam quốc chí

    Bộ sử thời Tam Quốc của Trần Thọ, có lời chú của Bùi Tùng Chi; phần Ngô thư chép truyện Sĩ Nhiếp, việc Giao Chỉ, Cửu Chân năm 248, và giữ nguyên văn tờ sớ của Tiết Tống kể Giao Châu dưới mắt người cai trị. · quyển 53, Ngô thư, truyện Tiết Tống, chính văn chép nguyên tờ sớ

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  21. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ thuộc Ngô Tấn Tống Tề, năm Tân Hợi, tờ 2b đến 3b, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  22. Tam quốc chí

    Bộ sử thời Tam Quốc của Trần Thọ, có lời chú của Bùi Tùng Chi; phần Ngô thư chép truyện Sĩ Nhiếp, việc Giao Chỉ, Cửu Chân năm 248, và giữ nguyên văn tờ sớ của Tiết Tống kể Giao Châu dưới mắt người cai trị. · quyển 53, bản Tứ khố toàn thư, lời khảo chứng của quan Tứ khố cuối quyển

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  23. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 3, tờ sớ của Tiết Kính Văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn