Tập 6Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất và Hai Bà Trưng
Mã Viện: Lãng Bạc và Cấm Khê
Về trận Lãng Bạc, người thắng để lại cả lời kể của chính mình: nước lụt dưới chân, sương mù trên đầu, diều hâu rơi xuống nước. Còn kết cục của Hai Bà Trưng thì mỗi bộ sử chép một kiểu — bị chém, trốn vào hang, thua chết, hay gieo mình xuống sông.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Về cuộc chiến năm 42 ở Giao Chỉ có một điều trái khoáy.
Ta biết khá rõ người thắng đã thấy gì, nghe gì khi đứng giữa vùng đầm nước ấy — vì sử chép lại lời chính ông kể. Còn người thua đã chết ra sao, ở đâu, vào tháng nào, thì câu trả lời tuỳ vào việc ta mở cuốn sách nào.
Tập này đi theo Mã Viện từ lúc nhận chiếu thư tới lúc kéo quân về, rồi đặt các lời kể về kết cục của Trưng Trắc và Trưng Nhị cạnh nhau, theo đúng thứ tự chúng được viết ra.1
Chiếu thư và con đường men biển
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Hậu Hán thư kể cuộc xuất quân ở hai chỗ, và mỗi chỗ giữ một nửa câu chuyện.
Thiên chép về các tộc phương Nam kể phần quân số. Tập trước đã thấy nhà Hán sửa soạn xe thuyền, đường sá, lương thóc trong lúc Trưng Trắc làm vua. Đến năm 42, triều đình sai Phục Ba tướng quân Mã Viện và Lâu Thuyền tướng quân Đoàn Chí, phát hơn một vạn quân của bốn quận Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô sang đánh.2
Thiên truyện Mã Viện kể phần đường đi. Ông nhận tỷ thư phong làm Phục Ba tướng quân, có Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó, đốc suất cả Lâu Thuyền tướng quân Đoàn Chí. Quân tới Hợp Phố thì Đoàn Chí bệnh chết, vua xuống chiếu cho Mã Viện gộp luôn quân của ông ta. Từ đó đoàn quân men theo bờ biển mà tiến, theo sườn núi mà mở đường hơn một nghìn dặm.1
Một trong hai viên tướng cầm quân đã nằm xuống vì bệnh trước khi thấy mặt đối phương. Chi tiết ấy nên nhớ, vì cuối tập ta sẽ gặp lại bệnh tật, lần này với con số lớn hơn nhiều.
Hai chức danh của đoàn quân năm 42 cũng không mới. Phục Ba tướng quân và Lâu Thuyền tướng quân là hai chức danh đã có từ đời Hán Vũ Đế, người mang khi ấy là Lộ Bác Đức và Dương Bộc.3
Lãng Bạc
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Truyện Mã Viện chép trận đánh bằng đúng một câu: mùa xuân năm thứ mười tám niên hiệu Kiến Vũ, tức năm 42, quân tới Lãng Bạc, đánh nhau với giặc, phá được, chém mấy nghìn đầu, hơn một vạn người ra hàng.1
Chỉ có thế. Không đội hình, không kể ai chỉ huy phía Hai Bà, không có một cái tên nào bên kia chiến tuyến. Và những con số ấy là con số của bên thắng tự báo.
Lãng Bạc ở đâu? Thuỷ kinh chú, bộ sách về sông ngòi soạn ở thế kỷ VI, chỉ đặt nó bên một nhánh sông, kèm một câu: Mã Viện thấy đất ấy cao, nên từ Tây Lý tiến lên đóng quân ở đây.4
Các lời chú đời Đường, khi giảng địa danh vùng này, cũng chỉ quy về tên đất của đời Đường. Trong những nguồn cổ đã đọc, không nguồn nào quy Lãng Bạc về một tỉnh, một huyện ngày nay; mọi cách chỉ nó trên bản đồ hiện đại là việc của giới nghiên cứu về sau.4
Lời của người thắng
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Rồi đến đoạn hiếm nhất của cả tập. Cũng trong truyện Mã Viện, Hậu Hán thư chép lại lời chính ông nói về những ngày ở đó. Dịch sát như sau:
Đương lúc ta ở khoảng Lãng Bạc, Tây Lý, giặc còn chưa diệt, dưới thì nước lụt, trên thì sương mù, khí độc hun bốc ngùn ngụt, ngẩng lên thấy diều hâu đang bay chấp chới rơi xuống nước. Nằm mà nhớ lại lời Thiếu Du nói lúc bình sinh — làm sao còn có được nữa!1
Hãy để ý câu ấy nói về cái gì. Không nói về trận thắng, không nói về số đầu chém được. Người cầm quân phía thắng nhớ lại Lãng Bạc như một chốn ngột ngạt: nước dưới chân, sương trên đầu, không khí nặng tới mức chim trời cũng rơi. Và ông nhớ nó trong tư thế nằm, chứ không phải trên lưng ngựa.
Câu nói ngoảnh về quá khứ — "đương lúc ta ở" — tức là ông kể khi mọi chuyện đã xong. Lời của người tên Thiếu Du mà ông nhắc tới, giữa đầm nước ấy, trở thành thứ không sao với tới được. Đó là giọng của một người thấy mình đã suýt không về.
Cái tên Tây Lý trong lời ông khớp với Tây Lý trong Thuỷ kinh chú, nơi ông từ đó tiến lên đóng ở chỗ đất cao.4
Sử về cuộc chiến này đều được viết sau đó nhiều trăm năm. Câu này cũng được chép lại muộn như thế, nhưng nó được ghi là lời của một người đã đứng ở đó. Và người đứng ở đó không tả vinh quang, mà tả cái khổ.
Cấm Khê, hay Kim Khê
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Sau Lãng Bạc, truyện Mã Viện chép tiếp: Viện đuổi bọn Trưng Trắc tới Cấm Khê, mấy lần đánh bại, giặc bèn tan chạy. Tháng Giêng năm sau, tức năm 43, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, truyền đầu về Lạc Dương. Mã Viện được phong Tân Tức hầu, ăn lộc ba nghìn hộ.1
Ngay cái tên Cấm Khê cũng có hai mặt chữ. Chính văn viết chữ Cấm là ngăn cấm, chữ Khê là khe suối, và coi đó là một địa điểm quân sự — nơi quân Hán đuổi tới.1
Hai nguồn khác mà ta sẽ gặp ngay dưới đây lại viết Kim Khê, chữ Kim là vàng, và coi đó là một cái hang — nơi người ta trốn vào.5 Hai chữ đọc gần nhau trong tiếng Hán thời trung cổ. Chưa có nguồn đương thời nào cho biết nơi ấy nằm ở đâu.6
Sử Việt cũng biết chỗ vênh này. Đại Việt sử ký toàn thư viết Cấm Khê, rồi chua thêm một dòng: Cấm Khê, sử chép là Kim Khê.7
Kết cục theo sử Trung Hoa, từ thế kỷ V tới thế kỷ VII
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Bây giờ tới câu hỏi mà tập này không thể trả lời gọn: Hai Bà mất thế nào?
Cách ngay thẳng nhất là xếp các lời kể theo thứ tự chúng được viết ra, và nói rõ mỗi lời cách sự việc bao xa.
Lời sớm nhất còn đọc được là Hậu Hán thư, do Phạm Diệp soạn ở thế kỷ V — tức chừng bốn trăm năm sau năm 43. Ngay trong một bộ ấy đã có hai lời. Truyện Mã Viện nói tháng Giêng năm 43 thì chém hai bà và truyền đầu về Lạc Dương.1 Thiên về các tộc phương Nam lại chép: mùa hạ tháng Tư năm ấy, Viện phá Giao Chỉ, chém bọn Trưng Trắc, Trưng Nhị, số còn lại đều hàng hoặc tan.2
Cùng một tác giả, cùng một bộ sách, lệch nhau ba tháng. Bộ sách ấy còn tự vênh với mình ở chỗ khác nữa: một thiên nói Trưng Trắc lấy được sáu mươi lăm thành, thiên kia nói hơn sáu mươi thành.2 Nhưng ở chỗ kết cục, cả hai thiên cùng dùng một chữ: chém.
Lời thứ hai nằm trong Thuỷ kinh chú, thế kỷ VI, dẫn lại một sách đã mất tên là Giao Châu ngoại vực ký. Ở đó, khi Mã Viện đem binh đánh Trắc, người chạy vào hang Kim Khê là chồng bà — sách này gọi ông bằng một chữ, Thi — và ba năm sau mới bắt được.6
Lời thứ ba là lời chú của Lý Hiền đời Đường, thế kỷ VII, chừng sáu trăm năm sau sự việc. Ông đặt lời chú ngay sau câu "truyền đầu về Lạc Dương", dẫn một sách tên là Việt chí: Trưng Trắc dấy binh, đóng đô ở huyện Mê Linh; đến khi Mã Viện đánh dẹp thì chạy vào trong hang Kim Khê, hai năm mới bắt được.5
Tức là trên cùng một trang, chính văn nói bị chém vào tháng Giêng, chưa đầy một năm sau Lãng Bạc; còn lời chú nói trốn trong hang, hai năm mới bắt được. Lý Hiền chép cả hai, không phân xử.5
Đến đây đã có bốn mốc cho cùng một kết cục: tháng Giêng, tháng Tư, hai năm, ba năm. Hai sách nói về cái hang cũng không thống nhất ai là người trốn — sách này bảo là người chồng, sách kia bảo là chính Trưng Trắc.6
Kết cục theo sử Việt, từ thế kỷ XIV tới thế kỷ XIX
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Việt sử lược, bộ sử khuyết danh soạn ở thế kỷ XIV — chừng mười ba thế kỷ sau sự việc — chép gọn: Trưng Trắc bị Mã Viện giết.8
Toàn thư, bộ quốc sử đời Lê soạn ở thế kỷ XV, kể dài hơn, và kể từ phía bên này. Theo Toàn thư, chính Trưng Vương thấy thế giặc quá mạnh, tự lượng quân mình là đám ô hợp, sợ không chống nổi, nên lui về giữ Cấm Khê. Quân sĩ cũng vì vua là đàn bà, lo không thắng được giặc, bèn bỏ chạy tan. Toàn thư khép đoạn ấy bằng bốn chữ: quốc thống lại đứt.7
Rồi sang năm Quý Mão, tức năm 43, Trưng Nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự với quân Hán, thế cô, đều hãm một.7
Hãm một nghĩa là sa vào thế thua mà mất. Toàn thư dừng ở chữ ấy: không nói chết cách nào, không cho nơi chốn, không cho ngày tháng.7
Và hãy để ý một chỗ lệch nhỏ. Trong Hậu Hán thư, Cấm Khê là nơi Mã Viện đuổi tới. Trong Toàn thư, đó là nơi Trưng Vương tự lui về giữ. Cùng một địa danh, hai hướng chuyển động, tuỳ người chép đứng ở phía nào.
Bốn trăm năm sau Toàn thư, bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn, biên soạn ở thế kỷ XIX, chọn lại đúng mốc của truyện Mã Viện. Chính văn ghi: năm Quý Mão, tức năm thứ mười chín niên hiệu Kiến Vũ, mùa xuân tháng Giêng, Trưng Trắc cùng em gái là Nhị chống cự quân Hán, thua chết. Nhưng ngay bên dưới, lời chua lại dẫn sách Nam Việt chí của Thẩm Hoài Viễn: Trưng Trắc chạy vào trong hang Kim Khê, hai năm mới bắt được.9
Vế ấy gần như trùng từng chữ với câu Lý Hiền dẫn từ Việt chí. Cách xếp cũng giống hệt: bản chết ở chính văn, bản trốn trong hang ở lời chú. Cách nhau mười hai thế kỷ, hai nhóm người chép sử ở hai phía biên giới cùng làm một việc — giữ cả hai lời, không bỏ lời nào.9
Và rồi một dòng sông
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Mỗi lời kể trên chốt kết cục bằng một chữ riêng: chém, bị giết, hãm một, thua chết, trốn vào hang rồi bị bắt.
Bản kể có dòng sông nằm ở cuối chuỗi này. Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, in năm 1920, gần mười chín thế kỷ sau sự việc, chép rằng Hai Bà gieo mình xuống sông Hát mà tự tận, và cho cả ngày: mồng sáu tháng hai năm Quý Mão, tức năm 43.10
Từ bản sớm nhất tới bản muộn nhất là khoảng mười lăm thế kỷ. Tập này không chọn bản nào.
Chỗ mọi lời kể gặp nhau chỉ là: cuộc kháng cự đã chấm dứt trước quân Hán. Còn chấm dứt vào tháng nào, bằng cách nào, thì mỗi thế kỷ để lại một câu trả lời riêng.10
Cửu Chân
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Giao Chỉ yên rồi, Mã Viện chưa về. Truyện của ông chép: Viện đem hơn hai nghìn lâu thuyền lớn nhỏ, hơn hai vạn chiến sĩ, đánh dư đảng của Trưng Trắc ở Cửu Chân là bọn Đô Dương, từ Vô Công tới Cư Phong, chém và bắt hơn năm nghìn người. Đoạn ấy khép lại bằng bốn chữ: phía nam đèo đều bình.1
Lời chú Lý Hiền cho biết Vô Công, Cư Phong là tên hai huyện thuộc quận Cửu Chân, và Cư Phong nay là Ái Châu — chữ "nay" ở đây là của đời Đường.11
Thiên về các tộc phương Nam kể cùng chiến dịch ấy ngắn hơn, nhưng thêm một chi tiết: phá được bọn Đô Dương, bắt hàng, rồi dời hơn ba trăm khẩu cừ suý của chúng sang Linh Lăng.2 Cừ suý là những người cầm đầu, còn khẩu là đơn vị đếm người. Linh Lăng lại chính là một trong bốn quận đã góp quân cho cuộc viễn chinh. Người cầm đầu bị đưa đi xa khỏi đất của mình — một chiến dịch được khép lại theo cách ấy.
Nếu đặt hai thiên cạnh nhau, đoàn quân lúc xuất phát là hơn một vạn, còn ở Cửu Chân là hơn hai vạn chiến sĩ. Sách không giải thích chỗ chênh; đó là hai con số ở hai thời điểm, chép trong hai thiên khác nhau.2
Mùa thu năm 44, Mã Viện mới chỉnh quân về kinh. Cũng truyện ấy chép rằng trong quân, số chết vì chướng dịch lên tới bốn, năm phần mười.1 Cái khí độc hun ngùn ngụt ở Lãng Bạc, hoá ra, không phải một lối nói văn chương.
Khép lại
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Những gì Mã Viện để lại ở Giao Chỉ sau khi kéo quân về là chuyện của tập sau, và của một thời kỳ khác.
Ở phía sử Việt, Toàn thư đã đánh dấu khúc ngoặt này bằng bốn chữ đặt ngay sau Cấm Khê: quốc thống lại đứt.7 Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất và ba năm của Hai Bà Trưng khép lại ở đây.
Tập sau: Cột đồng Mã Viện và chính sách đồng hoá.
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Hậu Hán thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Hậu Hán thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Hán thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Thuỷ kinh chú
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Hậu Hán thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Thuỷ kinh chú
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt Nam sử lược
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Hậu Hán thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn