Tập 2Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba
Khởi nghĩa Bà Triệu (248)
Bộ sử gần thời nhất chép năm 248 có loạn ở Giao Chỉ và Cửu Chân, nhưng không nêu tên một người đàn bà nào. Cái tên Triệu Ẩu, con voi, đôi guốc vàng đều đến từ những sách khác, phần lớn đã mất và chỉ còn qua trích dẫn; tập này xếp chúng theo thứ tự ra đời.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tập này nhảy thẳng tới năm 248. Tập sau sẽ lùi lại, về thời Sĩ Nhiếp mấy chục năm trước đó.
Bà Triệu là một cái tên quen thuộc. Nhưng mở bộ sử được viết gần năm 248 nhất, ta thấy một điều lạ. Có một cuộc nổi dậy. Có một viên thứ sử được cử sang dẹp. Có con số người ra hàng. Không có tên một người đàn bà nào.1
Mọi chi tiết ta biết về bà đều đến từ những cuốn sách khác. Tập này xếp chúng lại theo năm soạn, để xem mỗi chi tiết bước vào câu chuyện ở trang sách nào.1
Năm Xích Ô thứ mười một
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Bộ sử ấy là Tam quốc chí của Trần Thọ. Trong phần Ngô thư có một truyện ngắn phụ sau truyện Lục Khải: truyện người em là Lục Dận. Đoạn về năm 248 nằm ở đây.
Năm Xích Ô thứ mười một, giặc Di ở Giao Chỉ, Cửu Chân đánh chiếm thành ấp, cả bộ Giao rối động.1
Xích Ô là niên hiệu nhà Ngô; năm thứ mười một ứng với năm 248. Nhà Ngô lấy Lục Dận, khi ấy đang làm đốc quân đô uý ở Hành Dương, sang làm thứ sử Giao Châu kiêm An Nam hiệu uý.
Truyện không tả một trận đánh nào. Nó tả một cuộc chiêu hàng. Dận vào cõi nam, lấy ân tín mà hiểu dụ, cốt ở chiêu nạp. Bè đảng của Hoàng Ngô, một cừ soái đất Cao Lương, hơn ba nghìn nhà ra hàng. Ông dẫn quân xuống nam, lại tỏ lòng thành, đem của cải tặng. Rồi hơn trăm tướng giặc, hơn năm vạn nhà dân ở nơi sâu kín không chịu ràng buộc, không ai không cúi đầu. Cõi Giao yên ổn, ông được gia chức An Nam tướng quân.1
Người duy nhất phía nổi dậy có tên trong đoạn này là Hoàng Ngô. Và ông ở Cao Lương, tức vùng Quảng Đông ngày nay, không phải ở Cửu Chân. Hơn trăm tướng giặc kia không ai được nêu tên.1
Chỗ lẽ ra phải có thì không có
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Việc phương nam cũng không nằm trong phần chép về chính vua Ngô. Truyện Ngô chủ chép năm Xích Ô thứ mười một khá đủ: Chu Nhiên xây thành Giang Lăng, động đất, cung Thái Sơ làm xong, mưa đá, nơi này báo thấy rồng vàng, nơi kia báo thấy hổ trắng. Về Giao Chỉ, Cửu Chân thì không một chữ. Tên Lục Dận cũng không xuất hiện ở bất cứ đâu trong cả quyển ấy.2
Người đàn bà bước ra từ một cuốn sách đã mất
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Cái tên xuất hiện ở một loại sách khác hẳn: sách chép về một địa phương.
Lưu Hân Kỳ có viết một cuốn Giao Châu ký. Sách ấy đã mất. Nhưng nó có từ trước năm 527, vì Thuỷ kinh chú, sách của một người mất năm ấy, đã dẫn tên nó.3 Đoạn về người đàn bà còn lại nhờ bộ loại thư Thái Bình ngự lãm đời Tống, soạn năm 983, trích lại. Nó như sau.
Triệu Ẩu là con gái huyện Quân An, quận Cửu Chân. Vú dài mấy thước, không lấy chồng, vào núi tụ tập bọn cướp, rồi đánh quận. Thường đi guốc có vàng. Đánh xong lui về thì giăng màn trướng, tư thông với trai trẻ, vài chục người hầu bên cạnh. Thứ sử là Lục Dận người quận Ngô dẹp yên.4
Đây là giọng của người đứng phía chính quyền tả một kẻ nổi loạn, và giọng ấy không giấu mình. Thân thể lạ thường. Không chồng. Một bọn cướp trong núi. Một đời sống bị tả như phóng đãng. Mỗi chi tiết là một lời kết tội.
Đoạn văn cũng không có năm nào. Thứ duy nhất nối người đàn bà này với năm 248 là tên người dẹp: Lục Dận.4
Còn đôi guốc thì có chuyện riêng. Chữ tả nó là một chữ hiếm, và ba chỗ khác nhau trong cùng bộ Ngự lãm trích ba cách viết khác nhau. Một người đời Thanh gom lại sách của Lưu Hân Kỳ đã phải ghi: chưa biết chữ nào đúng. Chỉ chắc được hai điều: có chữ vàng, và có chữ guốc.4 Nên nhớ đôi guốc ấy. Về sau nó sẽ đổi thành áo.
Con voi đến từ một cuốn sách khác
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Hình ảnh quen thuộc, người đàn bà ngồi trên voi ra trận, không có trong đoạn của Lưu Hân Kỳ. Nó đến từ cuốn Nam Việt chí, cũng là sách đã mất. Một đoạn còn lại nhờ bộ loại thư Sơ học ký đời Đường, soạn năm 727, ở mục Ái Châu.
Người con gái huyện Quân An là Triệu Ẩu từng ở trong núi tụ họp bè đảng, đánh cướp quận huyện, đi guốc răng bịt vàng, thường ngồi trên đầu voi mà đánh.5
Mảnh này có con voi và đôi guốc. Nó không nói tới vú dài, không nói tới trai trẻ, không nói tới Lục Dận.5
Đời Tống: vú dài thêm, và thứ sử đổi tên
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Khoảng năm 980, bộ địa chí Thái Bình hoàn vũ ký chép lại chuyện ở cùng mục Ái Châu. Lần này các mảnh đã gộp làm một.
Xưa ở Cửu Chân có người con gái là Triệu Ẩu, vú dài năm thước, không lấy chồng, thường ở trong núi tụ cướp kết đảng, đánh cướp quận huyện, đi giày răng bịt vàng, ngồi trên đầu voi mà đánh, lấy hơn mười trai trẻ làm người hầu; sau thứ sử Lục Duẫn dẹp yên.6
Bộ ngực từ mấy thước đã thành năm thước. Tên viên thứ sử đổi một chữ: Dận thành Duẫn. Chữ Dận trùng tên huý vua Tống Thái Tổ, nên có thể đây là kiêng huý; sách không nói thế, đó chỉ là phỏng đoán.6
Cùng triều Tống ấy, chính sử đi đường riêng. Năm 1084, Tư Mã Quang chép năm 248 vào Tư trị thông giám. Ông tóm lại câu của Tam quốc chí: giặc Di Giao Chỉ, Cửu Chân đánh chiếm thành ấp; vua Ngô cử Lục Dận sang; Dận vào cõi, lấy ân tín hiểu dụ, người hàng hơn năm vạn nhà, cõi châu lại yên.7
Vẫn không có người đàn bà nào. Tới thế kỷ XI, sách tra cứu và sách địa chí đã có Triệu Ẩu, còn bộ sử biên niên thì chưa.
Người Việt chép lại, xếp vào mục phản nghịch
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Thế kỷ XIV, Lê Tắc viết An Nam chí lược. Triệu Ẩu có mặt ở đó, trong mục mang tên phản nghịch, cùng mục với Trưng Trắc và Lý Bí.8
Triệu Ẩu, con gái huyện Quân Ninh, Cửu Chân, trẻ không lấy chồng, vú dài ba thước, vắt ra sau lưng, đi giày răng bịt vàng, cưỡi đầu voi đánh với giặc, ở trong núi tụ đảng làm cướp. Thứ sử Giao Châu giết đi.8
Trong các sách đã mở, đây là chỗ sớm nhất có con số ba thước và chi tiết vắt ra sau lưng, đúng như bộ sử Việt về sau sẽ dùng. Đám trai trẻ đã biến mất. Còn lời kết thì nặng hơn: bản cũ nói viên thứ sử dẹp yên, bản này nói giết đi.8
Cùng thời ấy, Việt sử lược thì không kể chuyện Triệu Ẩu. Trong danh sách các quan cai trị qua các đời, nó chỉ ghi một dòng: Lục Duẫn, người Ngô. Không một chữ về việc ông làm.9
Toàn thư: một dòng phụ, và mấy chỗ chép lệch
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Đại Việt sử ký toàn thư không dành cho Triệu Ẩu một kỷ riêng. Tên bà nằm trong kỷ thuộc Ngô, mục lục ghi là "phụ Triệu Ẩu".10
Đoạn này mở bằng năm Mậu Thìn. Can chi đúng năm 248, nhưng hai niên hiệu ghi kèm đều sai. Niên hiệu Diên Hy của nhà Thục bị viết bằng chữ của một niên hiệu Đông Hán thế kỷ thứ hai. Còn năm Vĩnh An thứ nhất của nhà Ngô là năm 258, lệch mười năm.10
Rồi chính văn chép: Cửu Chân lại đánh chiếm thành ấp, châu quận rối động. Người được cử sang có tên chép là Lăng Dận, lại chua thêm "có sách chép là Lăng Thương". Chữ Lục và chữ Lăng gần giống nhau, nên có thể đây là lầm nét chữ. Bản dịch quốc ngữ hiện hành lặng lẽ sửa lại thành Lục Dận.10
Số người ra hàng cũng khác: Toàn thư chép hơn ba vạn nhà, trong khi Tam quốc chí và Thông giám chép hơn năm vạn.10
Rồi mới tới người đàn bà. Sau đó, người con gái quận Cửu Chân là Triệu Ẩu tụ tập đám đông đánh cướp quận huyện; Dận dẹp yên. Chữ "sau đó" đặt bà vào một đợt thứ hai, sau khi Lục Dận đã dẹp yên lần đầu. Chú kép chen giữa câu ghi thêm: vú dài ba thước, vắt sau lưng, thường cưỡi đầu voi đánh với giặc.10
Lời chú bên dưới dẫn một sách tên là Giao Chỉ chí, và mang vào một chi tiết không có trong những sách cũ hơn đã kể ở trên: chết đi thành thần.11
Lời chú ấy còn có một chữ chỉ áo vải thô, nên bản dịch hiện đại đọc thành chiếc áo ngắn màu vàng. Nhưng mọi bản cũ hơn, ở đúng chỗ ấy, đều là giày hay guốc bịt vàng. Có thể một nét chữ đã bị chép lệch; không sách nào nói thế.11
Còn chi tiết trai trẻ, vốn có từ bản cổ nhất, thì Toàn thư không giữ.10
Ba lời phán: hùng tài, chưa đáng kể, quái đản
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Năm 1514, Lê Tung viết bài tổng luận in ở đầu Toàn thư. Trong những gì đã mở, đó là lời bàn sớm nhất của sử Việt khen người đàn bà này.
Triệu Ẩu là con gái Cửu Chân, tụ đồ đảng trong núi, đánh phá thành ấp, các bộ theo như bóng theo hình, dễ như trở bàn tay. Tuy chưa chiếm được Lĩnh Biểu như việc Trưng Vương, cũng là bậc hùng tài trong đàn bà vậy.12
Gần ba thế kỷ sau, Ngô Thì Sĩ nghĩ khác. Trong Việt sử tiêu án, ở lời bàn cuối phần Trưng Vương, ông cho rằng Bà Triệu thì chưa đáng kể.13
Năm 1884, bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn làm hai việc ngược nhau. Một mặt, nó sửa lại cho đúng: năm Mậu Thìn được ghi đủ ba niên hiệu của Ngô, Thục, Nguỵ, và tên viên thứ sử trở lại là Lục Dận. Mặt khác, nó vẫn giữ con số ba vạn nhà của Toàn thư.14
Và lần này, tên người đàn bà được đưa lên đề mục lớn: Triệu Ẩu ở Cửu Chân tụ tập đám đông đánh cướp quận huyện, thứ sử Lục Dận đánh dẹp yên. Ở Toàn thư, bà là dòng phụ. Ở Cương mục, bà là tiêu đề của năm.14
Phần chú của Cương mục ghi nguồn là Thái Bình hoàn vũ ký, nhưng câu trích không khớp bản Hoàn vũ ký kể ở trên: vú ba thước chứ không phải năm, lại có chuyện chết làm thần. Nó khớp gần như từng chữ với đoạn Giao Chỉ chí trong lời chú Toàn thư. Hoặc Cương mục gắn nhầm nguồn, hoặc nó dùng một bản Hoàn vũ ký khác; không đủ căn cứ để chọn.14
Cũng phần chú ấy thêm một câu mà các sách trước, trong số đã mở, không có: nay đền thờ ở xã Phú Điền, huyện Mỹ Hoá, Thanh Hoá.14
Rồi vua Tự Đức phê. Con gái nước Nam ta nhiều người hùng kỳ. Triệu Ẩu cũng là bậc theo sau hai bà Trưng. Nhưng ông không nuốt trọn câu chuyện: chỉ có chuyện vú dài ba thước thì thật quái đản đáng cười.15
Bà Triệu của thế kỷ XX
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Tầng cuối cùng là Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim. Bản đã mở là một bản in lại có sửa chữa, và ở đó chính tác giả chú: "Bà Triệu, các kỳ xuất bản trước để là Triệu Ẩu. Nay xét ra nên để là Triệu thị Chinh."16
Ông mở đầu phần kể bằng mấy chữ "Sử ta chép rằng". Nhưng những gì theo sau, gồm quê quán, gia cảnh, một câu nói, tuổi và cái chết của bà, không có trong bộ sử cũ nào đã mở, từ Toàn thư tới Cương mục. Ông cũng không nêu tên sách.16
Trong số ấy có những thứ được biết rộng rãi hôm nay. Câu nói về cưỡi gió đạp sóng. Hình ảnh bà mặc áo giáp vàng. Văn bản sớm nhất đã mở có chúng là sách này, ở bản in lại, không nêu nguồn; bản in năm 1920 có chúng hay chưa thì chưa kiểm được. Còn áo giáp vàng thì nên đặt cạnh đôi guốc: mọi bản chữ Hán kể ở trên, ở đúng chỗ ấy, đều là guốc hay giày bịt vàng.16
Cái tên Triệu Thị Trinh quen dùng hôm nay cũng vậy. Nó không có trong văn bản nào đã mở, kể cả sách của Trần Trọng Kim, nơi tên được sửa thành Triệu thị Chinh.16
Một người được dựng dần qua từng trang sách
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Xếp các lớp theo năm, câu chuyện hiện ra thế này. Bộ sử gần thời nhất cho một cuộc nổi dậy không có tên người cầm đầu ở Cửu Chân. Sách địa phương đã mất cho cái tên, bộ ngực, đôi guốc vàng, đám trai trẻ; một sách khác cho con voi. Đời Tống gộp chúng lại. Sử Việt giữ con voi và bộ ngực, bỏ đám trai trẻ, thêm chuyện chết làm thần và một ngôi đền. Một ông vua nhà Nguyễn cười chuyện bộ ngực. Thế kỷ XX thêm giáp vàng, câu nói nổi tiếng và một cái tên mới.14
Điều đó không trả lời được câu hỏi người đàn bà ấy là ai. Nó chỉ cho thấy mỗi chi tiết về bà đều có một ngày bước vào câu chuyện, và có thể chỉ ra đúng trang sách ấy.4
Tập sau: Sĩ Nhiếp giữ Giao Châu giữa loạn Tam Quốc.
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Tam quốc chí
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tam quốc chí
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Thuỷ kinh chú
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Thái Bình ngự lãm
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Sơ học ký
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Thái Bình hoàn vũ ký
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tư trị thông giám
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
An Nam chí lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt giám thông khảo tổng luận
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử tiêu án
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt Nam sử lược
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn