Thời kỳ

Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba

Thời Giao Châu, rồi An Nam đô hộ phủ, dưới các triều phương Bắc từ Đông Hán tới Đường, xen giữa là nước Vạn Xuân mà sử Việt chép từ khi Lý Bí xưng đế năm 544 tới năm 602; các tập đã viết đi từ những việc Mã Viện làm ở Giao Chỉ tới cuộc vây phủ năm 791.

Hồ sơ

Tên khác
Toàn thư chép thời này qua nhiều kỷ: có kỷ thuộc các triều phương Bắc (kỷ thuộc Ngô Tấn Tống Tề Lương, kỷ thuộc Tuỳ Đường) và có kỷ riêng cho Sĩ Vương, Tiền Lý, Triệu Việt Vương, Hậu Lý Nam Đế; Cương mục xoá kỷ Sĩ Vương, và xếp hai vua Tiền Lý, Hậu Lý cùng Triệu Việt Vương vào hàng không chính thống12345678
Niên đại
Các tập đã viết đi từ những việc Mã Viện làm ở Giao Chỉ sau khi dẹp xong Cửu Chân tới cuộc vây phủ đô hộ năm 791; trong đó sử Việt chép nước Vạn Xuân từ khi Lý Bí xưng đế năm 544 tới năm 6029356
Địa bàn
Giao Châu; theo thiên địa lý hai bộ Đường thư, năm 679 Giao Châu đô đốc phủ đổi làm An Nam đô hộ phủ — bản kỷ Cựu Đường thư lại đặt việc ấy năm 681, Toàn thư đặt năm 622. Thứ sử kiêm chức đô hộ, coi bốn nghìn hai trăm quân; theo Tân Đường thư, trị sở ban đầu ở Giao Chỉ, năm 825 mới dời về Tống Bình10111213

Tổng quan

Sử cũ chép

Dẹp xong Cửu Chân, Mã Viện xin chia huyện Tây Vu làm hai, tâu bày hơn mười việc luật Việt vênh với luật Hán, và lấy trống đồng của người Lạc Việt đúc thành khuôn mẫu ngựa. Chính văn truyện ông trong Hậu Hán thư không có cột đồng nào. Trong những sách đã tra, câu thề về cột đồng xuất hiện lần đầu năm 1178, ở Lĩnh ngoại đại đáp, hơn một nghìn một trăm năm sau Mã Viện: cây cột lúc ấy ở Khâm Châu, động từ là trồi ra chứ chưa phải gãy, và người kể chỉ nói mình nghe.914

Sĩ Nhiếp làm thái thú Giao Chỉ, ở quận hơn bốn mươi năm giữa loạn Tam Quốc; năm 210 ông dẫn anh em vâng theo nhà Ngô mà không có trận đánh nào, và mất năm 226. Tam quốc chí chép ông là một viên thái thú năm nào cũng cống nạp; Toàn thư lập cho ông một kỷ riêng, gọi là Sĩ Vương. Năm 248, Tam quốc chí chép loạn ở Giao Chỉ, Cửu Chân và việc Lục Dận sang chiêu hàng, nhưng không nêu tên người đàn bà nào; cái tên Triệu Ẩu, đôi guốc vàng, con voi đến từ những sách khác, phần lớn đã mất và chỉ còn qua trích dẫn.1521617

Hai trăm năm sau đó, chức thứ sử Giao Châu cứ ở lại trong vài dòng họ. Theo Tấn thư, họ Đào có năm người làm thứ sử trong bốn đời. Theo Tống thư, họ Đỗ gốc Kinh Triệu, ở Chu Diên từ đời cụ; Đỗ Tuệ Độ phóng tên lửa đốt thuyền Lư Tuần ở bến nam Long Biên. Theo Nam Tề thư, người Giao Chỉ là Lý Trường Nhân giết bộ khúc từ phương Bắc tới, chiếm châu làm phản; năm 479 nhà Tề vẫn cho em họ ông là Lý Thúc Hiến làm thứ sử Giao Châu, để vỗ yên.181920

Năm 541, Lý Bí nổi dậy; theo Lương thư, thứ sử Tiêu Tư đút lót mà được trở về. Năm 544 ông xưng đế: sử Việt chép quốc hiệu Vạn Xuân, còn bốn bộ sử Trung Hoa chép cùng những năm ấy không có hai chữ ấy. Lý Bí mất trong động Khuất Lạo — bốn bộ sử Trung Hoa nói bị người trong động chém, ba bộ sử Việt nói ốm mà mất. Toàn thư chép Triệu Quang Phục đánh tan quân Lương năm 550, và tự ghi ở đầu kỷ của ông rằng sử cũ không chép ông, nay lấy dã sử và các sách khác; Trần thư thì đặt Trần Bá Tiên lúc ấy ở Nam Khang. Năm 602 Lưu Phương nhà Tuỳ đánh Lý Phật Tử; ngay trong Tuỳ thư, một truyện nói ông hàng, một truyện nói bị bắt.2132242324252627

Năm 687, đô hộ Lưu Diên Hựu bắt các hộ người Lý vốn nộp nửa thuế phải nộp đủ, rồi giết người cầm đầu là Lý Tự Tiên; đồng đảng vây phủ An Nam và giết ông, dù các bộ sử không khớp nhau ai cầm quân, ai giết. Năm 722, theo bản kỷ Cựu Đường thư, Mai Thúc Loan đánh vây châu huyện; truyện Dương Tư Húc chép tên ông là Mai Huyền Thành, tự xưng Hắc Đế, và kể viên hoạn quan ấy mộ hơn mười vạn quân, theo đường cũ Phục Ba mà dẹp. Năm 791, đô hộ Cao Chính Bình thu thuế nặng, phủ bị vây, ông lo mà chết: sử Trung Hoa gọi người cầm đầu là Đỗ Anh Hàn, Toàn thư gọi là Phùng Hưng, người được con tôn làm Bố Cái Đại Vương.282930316

Các tập

  1. Tập 1Cột đồng Mã Viện và chính sách đồng hoá10 phút
  2. Tập 2Khởi nghĩa Bà Triệu (248)11 phút
  3. Tập 3Sĩ Nhiếp giữ Giao Châu giữa loạn Tam Quốc11 phút
  4. Tập 4Giao Châu thời Lưỡng Tấn – Nam Bắc triều11 phút
  5. Tập 5Chính sách hà khắc của Tiêu Tư6 phút
  6. Tập 6Khởi nghĩa Lý Bí, lập nước Vạn Xuân (541–544)9 phút
  7. Tập 7Quân Lương phản công, Lý Nam Đế mất (545–548)10 phút
  8. Tập 8Triệu Quang Phục — Dạ Trạch Vương (548–550)11 phút
  9. Tập 9Lý Phật Tử tranh ngôi, Vạn Xuân sụp đổ (571–602)11 phút
  10. Tập 10An Nam đô hộ phủ và cuộc nổi dậy Lý Tự Tiên – Đinh Kiến10 phút
  11. Tập 11Khởi nghĩa Mai Thúc Loan — Mai Hắc Đế11 phút
  12. Tập 12Khởi nghĩa Phùng Hưng — Bố Cái Đại Vương9 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Đại Việt sử ký toàn thư

    Kỷ thuộc Ngô Tấn Tống Tề Lương, tờ 4a–8b, chính văn

    Về đoạn văn

  2. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 3, Kỷ Sĩ Vương, tờ 7b–12b, chính văn và lời chua

    Về đoạn văn

  3. Đại Việt sử ký toàn thư

    Kỷ Tiền Lý, tờ 14b–15b — chính văn và lời chua nhỏ của Toàn thư

    Về đoạn văn

  4. Đại Việt sử ký toàn thư

    Kỷ Triệu Việt Vương, tờ 18a — chính văn

    Về đoạn văn

  5. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Hậu Lý Nam Đế, năm Nhâm Tuất 602 và dòng tổng kết cuối kỷ, tờ 22a–22b — chính văn

    Về đoạn văn

  6. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 5, kỷ thuộc Tuỳ Đường, tờ 6a đến 6b, năm Tân Mùi, chính văn và chú nhỏ

    Về đoạn văn

  7. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Quyển đầu, Phàm lệ, điều khoản về họ Trưng và Sĩ Nhiếp

    Về đoạn văn

  8. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Quyển thủ, Phàm lệ — điều khoản về các vua không chính thống

    Về đoạn văn

  9. Hậu Hán thư

    quyển 24, Mã Viện liệt truyện, chính văn

    Về đoạn văn

  10. Cựu Đường thư

    quyển 41, Địa lý chí 4, mục An Nam đô hộ phủ, chính văn

    Về đoạn văn

  11. Tân Đường thư

    quyển 43 thượng, Địa lý chí 7 thượng, đạo Lĩnh Nam, mục An Nam trung đô hộ phủ, chính văn và dòng chú nhỏ của chính sách

    Về đoạn văn

  12. Cựu Đường thư

    quyển 5, bản kỷ Cao Tông hạ, năm 681, chính văn

    Về đoạn văn

  13. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 5, tờ 3a, năm Nhâm Ngọ, chính văn

    Về đoạn văn

  14. Lĩnh ngoại đại đáp

    quyển 10, mục Cột đồng

    Về đoạn văn

  15. Tam quốc chí

    quyển 49, Ngô thư, Sĩ Nhiếp truyện, chính văn

    Về đoạn văn

  16. Tam quốc chí

    quyển 61, Ngô thư, truyện Lục Dận phụ sau truyện Lục Khải — chính văn

    Về đoạn văn

  17. Thái Bình ngự lãm

    quyển 371, đoạn dẫn Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ; đối chiếu các quyển 499 và 811 cùng lời ghi của bản gom lại đời Thanh

    Về đoạn văn

  18. Tấn thư

    quyển 57, truyện Đào Hoàng, chính văn

    Về đoạn văn

  19. Tống thư

    quyển 92, Lương lại truyện, truyện Đỗ Tuệ Độ, chính văn

    Về đoạn văn

  20. Nam Tề thư

    quyển 58, Man, Đông Nam di truyện, đoạn về Giao Châu, chính văn

    Về đoạn văn

  21. Lương thư

    quyển 3, Vũ Đế kỷ hạ, các năm Đại Đồng thứ bảy đến thứ mười — chính văn

    Về đoạn văn

  22. Lương thư

    quyển 3, Vũ Đế kỷ hạ, năm Trung Đại Đồng thứ nhất và Thái Thanh thứ hai — chính văn

    Về đoạn văn

  23. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, đầu Kỷ Triệu Việt Vương, tờ 17b — lời án chữ nhỏ của người soạn

    Về đoạn văn

  24. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Triệu Việt Vương, năm Canh Ngọ 550 — chính văn

    Về đoạn văn

  25. Trần thư

    quyển 1, Cao Tổ kỷ thượng — chính văn

    Về đoạn văn

  26. Tùy thư

    quyển 53, truyện Lưu Phương — chính văn

    Về đoạn văn

  27. Tùy thư

    quyển 56, truyện Lệnh Hồ Hy — chính văn

    Về đoạn văn

  28. Cựu Đường thư

    quyển 190 thượng, Văn uyển thượng, truyện Lưu Dận Chi, phần phụ chép Lưu Diên Hựu, chính văn

    Về đoạn văn

  29. Cựu Đường thư

    quyển 8, bản kỷ Huyền Tông thượng, năm Khai Nguyên thứ mười, tháng tám ngày Bính Tuất, chính văn

    Về đoạn văn

  30. Cựu Đường thư

    quyển 184, Hoạn quan truyện, truyện Dương Tư Húc, chính văn

    Về đoạn văn

  31. Cựu Đường thư

    quyển 13, Đức Tông kỷ hạ, năm Trinh Nguyên thứ bảy, chính văn

    Về đoạn văn