Tập 4Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất và Hai Bà Trưng
Hai Bà Trưng khởi nghĩa, năm 40
Ai cũng thuộc rằng Hai Bà khởi binh để trả thù người chồng bị Tô Định giết. Nhưng Hậu Hán thư chỉ chép một cơn giận vì bị pháp luật trói buộc, bộ sử Việt sớm nhất còn lại thì chép chính bà làm việc trái phép, và trong các bộ sách bài này đối chiếu, phải tới quốc sử đời Lê người chồng mới được chép rõ là bị giết.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tập trước khép lại ở câu mười chữ về Tô Định, viên thái thú Giao Chỉ. Năm 40, dưới quyền ông, một người con gái Lạc tướng tên là Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị nổi dậy.1
Vì sao bà nổi dậy? Câu trả lời quen thuộc là: Tô Định giết chồng bà, bà khởi binh trả thù.
Câu ấy có thật trong sử.2 Nhưng nó không có trong bộ sử nhà Hán chép sự kiện này, cũng không có trong bộ sử Việt sớm nhất còn lại; cả hai chép một lý do khác, là pháp luật.13 Xếp các bộ sách theo thứ tự được viết ra, ta sẽ thấy lý do ấy đổi dạng dần qua hơn một nghìn năm.
Con gái một Lạc tướng
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Trước hết, bà là ai. Hậu Hán thư của Phạm Diệp, soạn ở thế kỷ V, chép trong thiên về các tộc phương Nam: Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, lấy làm vợ Thi Sách người Chu Diên.1
Người cha không có tên, chỉ có một chức danh. Hơn một nghìn năm sau, Đại Việt sử ký toàn thư cũng chỉ chép bà là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh.2 Những cái tên cha mẹ Hai Bà hay được kể lại ngày nay không nằm trong bộ sử nào ở đây; chúng đến từ thần tích.
Vậy Lạc tướng là gì? Hai đoạn tả chức này mà bài dùng đều thuộc về sách đã mất, chỉ còn qua lời dẫn của người đời sau.
Đoạn thứ nhất nằm trong Giao Châu ngoại vực ký, một sách về đất Giao Châu viết khoảng thế kỷ IV, được Thuỷ kinh chú chép lại. Đất ấy có ruộng Lạc, nước ruộng lên xuống theo con triều, dân khai khẩn ruộng ấy mà ăn nên gọi là dân Lạc. Các huyện phần nhiều có Lạc tướng, và Lạc tướng mang ấn đồng dây thao xanh.4
Đoạn thứ hai là một lời chú đời Đường trong Sử ký, dẫn một sách khác cũng đã mất. Nó tả gần y như thế, rồi so sánh: Lạc tướng tức là chức lệnh ngày nay, nghĩa là viên quan đứng đầu một huyện vào thời người viết.5
Vậy khi kể về cha của người nổi dậy năm 40, sử nhà Hán vẫn gọi ông bằng chức danh bản địa ấy.1
Người chồng cũng thuộc một nhà như thế. Giao Châu ngoại vực ký gọi ông là con trai Lạc tướng Chu Diên.4 Lời chua của Toàn thư nói cùng một ý: Thi Sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau.6 Cuộc hôn nhân này nối hai dòng họ nắm quyền ở hai huyện.
Thi Sách, hay Thi?
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tên người chồng là chỗ đầu tiên các bản chép vênh nhau, và cái vênh nằm ở đúng một chữ.
Hậu Hán thư viết tên ông bằng hai chữ, đọc là Thi Sách.1 Lời chú đời Đường của Lý Hiền, rồi Việt sử lược, Toàn thư và Cương mục đều đọc như vậy.7328
Nhưng Giao Châu ngoại vực ký có một câu mà nếu coi chữ "Sách" là phần cuối của tên, nó đọc thành: con trai Lạc tướng Chu Diên tên Thi Sách, con gái Lạc tướng Mê Linh tên Trưng Trắc làm vợ. Câu thiếu động từ.
Chữ ấy còn một nghĩa khác: cầu, hỏi. Ngắt câu ngay trước nó, câu thành ra trọn vẹn: con trai Lạc tướng Chu Diên tên là Thi, hỏi con gái Lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ.4
Trong cùng đoạn ấy, khi kể lúc khởi sự, sách viết Trắc là người có gan dạ dũng cảm, đem Thi dấy làm giặc. Khi kể lúc thua, sách viết Thi chạy vào hang Kim Khê. Cả hai lần chỉ có một chữ Thi. Nếu tên ông là Thi Sách, lẽ ra hai chỗ ấy phải viết đủ hai chữ.4
Bản Thuỷ kinh chú trong bộ Tứ khố toàn thư lại không chấm câu. Tức chỗ ngắt, trước hay sau chữ "Sách", là lựa chọn của người biên tập đời sau, không phải chữ của sách.9
Vậy có hai cách đọc, cả hai đều có gốc văn bản: một bên là chính văn bộ chính sử, một bên là một sách cổ hơn đã mất. Bài này không chọn hộ. Ai đề xuất cách đọc "Thi" đầu tiên thì cũng chưa truy ra được.
Nhưng hãy giữ lại một điều. Trong Giao Châu ngoại vực ký, người chồng không chết trước khi biến nổ ra; ông dấy binh cùng vợ, và còn sống tới lúc thua trận.4 Sách này cũng không nêu lý do nào cho cuộc nổi dậy, chỉ tả con người: gan dạ, dũng cảm.
Lý do đầu tiên: pháp luật
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Lý do đầu tiên được chép thành lời nằm trong Hậu Hán thư. Ngay sau lai lịch của bà, thiên về các tộc phương Nam viết:
Rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định lấy pháp luật mà trói buộc, Trắc tức giận, nên làm phản.1
Vế giữa của câu chính là mười chữ về Tô Định mà tập trước nói tới. Chữ "trói buộc" nghĩa đen là căng dây mực mà đo, tức đem luật ra mà ép. Đại từ trong câu trỏ vào chính Trưng Trắc: người bị trói buộc là bà, không phải chồng bà. Sách không nói Tô Định tham lam, không nói ông giết ai.1
Sách đặt chữ rất hùng dũng ngay trước Tô Định và pháp luật, mà không nói bên nào sai. Hiểu đó là lời khen, hay là lời giải thích vì sao bà va chạm với quan nhà Hán, đều được.
Thiên truyện Mã Viện trong cùng bộ sách thì chính văn không nêu nguyên nhân nào, chỉ chép hai chị em làm phản; câu lý do chỉ có ở đó dưới dạng lời chú đời Đường của Lý Hiền, với chữ "tức giận" đổi thành oán giận.107 Nhưng ở thiên các tộc phương Nam, câu ấy là chính văn của Phạm Diệp, không phải lời thêm thắt của đời sau.
Bộ sử Việt sớm nhất: lỗi ở phía bà
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Gần một nghìn năm sau, Việt sử lược, bộ sử Việt sớm nhất còn lại, soạn khoảng thế kỷ XIV, chép lại câu ấy và thêm vào đúng bốn chữ.
Tính rất hùng dũng, việc làm không theo phép. Thái thú Tô Định lấy pháp luật mà trói buộc, Trắc giận.3
Bốn chữ việc làm không theo phép đặt lỗi về phía bà trước, rồi mới tới việc viên thái thú dùng luật. Về điểm này, bộ sử Việt sớm nhất còn lại nghiêm với bà hơn cả bộ sử nhà Hán.
Thi Sách chỉ xuất hiện một lần, ở vế lấy chồng, với quê ghi là Mễ Diên chứ không phải Chu Diên, rồi biến mất. Nguyên nhân duy nhất được chép là chuyện pháp luật; không có việc Tô Định giết chồng bà. Đoạn văn cũng không nằm trong một kỷ riêng của Hai Bà, mà trong mục chép các quan cai trị qua các đời, dưới tên Mã Viện.3
Mối thù riêng bước vào quốc sử
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Một văn bản khác đáng nhắc, dù phải dè dặt: Việt điện u linh tập, sách chép sự tích các vị thần, có chép việc phong thần cho Hai Bà tới năm 1313. Bài này chỉ đọc được nó qua một bản dịch tiếng Anh năm 1999, và người giới thiệu bản dịch ghi rằng nó dịch từ một bản chép tay đầu thế kỷ XX, dựa trên sách gốc soạn ở thế kỷ XIV — nên không thể coi từng chữ trong đó là chữ của thế kỷ XIV. Theo bản dịch đó, Tô Định dùng quyền thế để hạ Thi Sách, nhưng câu chữ không nói rõ là giết.11
Chi tiết ấy hiện ra rõ ràng trong Đại Việt sử ký toàn thư, bộ quốc sử đời Lê mà Ngô Sĩ Liên biên soạn ở thế kỷ XV; bản dùng ở đây là bản khắc in năm 1697. Kỷ Trưng Nữ Vương chép:
Mùa xuân, tháng Hai, vua khổ vì Thái thú Tô Định lấy pháp luật trói buộc, lại thù Định đã giết chồng mình, bèn cùng em gái là Nhị cất quân đánh hãm trị sở châu.2
Vế đầu vẫn là lý do pháp luật của Hậu Hán thư. Vế sau là mới: một mối thù riêng. Trong các bộ sách bài này đối chiếu, đây là lần đầu việc Tô Định giết chồng bà được chép rõ. Người chồng từng cùng vợ dấy binh trong Giao Châu ngoại vực ký, tới đây đã chết trước khi khởi nghĩa.
Cũng trong bộ sách ấy, lời bàn của Ngô Sĩ Liên mở đầu theo cách khác: họ Trưng căm giận sự tàn ngược của viên quan nhà Hán giữ đất, vung tay hô một tiếng.12 Chính văn nói thù riêng; câu mở lời bàn nói sự tàn ngược của người cai trị.
Tang chồng chưa mãn
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ, soạn năm 1775, dựng tiếp lên chi tiết người chồng đã chết một cảnh mà Toàn thư không có, vì Toàn thư chỉ chép bà khổ vì luật, thù vì chồng, rồi dấy binh. Ở đây, khi ra quân bà chưa hết tang chồng mà vẫn mặc quần áo đẹp. Các tướng hỏi, bà đáp rằng việc binh phải tòng quyền: để mặt mũi tiều tuỵ theo lễ thì tự làm nhụt khí quân mình, mặc đẹp thì quân thêm hùng tráng mà bên kia cũng nhụt chí.13
Tới thế kỷ XIX, bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn chép: bấy giờ Thái thú Tô Định làm chính sự tham bạo, giết chồng bà.8
Năm 1920, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chép Tô Định bạo ngược, giết Thi Sách, và đặt việc ấy vào năm 40.14
Xếp theo năm viết, đường đi của lý do khá rõ. Bản cổ nhất không có lý do, chỉ có một người đàn bà gan dạ cùng chồng dấy binh. Thế kỷ V, bà bị pháp luật trói buộc. Thế kỷ XIV, chính bà làm việc trái phép. Thế kỷ XV, bà thêm mối thù chồng bị giết. Thế kỷ XVIII, bà ra trận khi chưa mãn tang. Thế kỷ XIX và năm 1920, viên thái thú đã thành kẻ tham bạo, kẻ giết người. Viên quan mà Hậu Hán thư chỉ chép là đã dùng luật, càng về sau càng tàn ác hơn trên trang giấy.
Lan ra tới đâu
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Về quy mô, Hậu Hán thư chép tiếp: bấy giờ người Man, người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, cướp được cả thảy sáu mươi lăm thành, tự lập làm vua. Thứ sử Giao Chỉ và các thái thú chỉ vừa đủ tự giữ mình.1 Man và Lý là những tên mà sử nhà Hán dùng để gọi cư dân các quận ấy.
Nhưng cùng tác giả ấy, ở thiên Mã Viện, lại chép cướp phá hơn sáu mươi thành ngoài cõi Lĩnh.10 Một bộ sách, một người viết, hai con số. Không có cách nào hoà làm một, nên cứ để cả hai.
Giao Châu ngoại vực ký tả cùng việc ấy từ bên trong xã hội Lạc: bà đánh phá châu quận, khuất phục các Lạc tướng, tất cả đều theo về Trưng Trắc làm vua, đóng trị sở ở huyện Mê Linh.4 Trong câu này, cuộc nổi dậy là chuyện một con gái Lạc tướng thu phục những Lạc tướng khác.
Các bộ sử Việt giữ con số sáu mươi lăm, nhưng danh sách nơi hưởng ứng mỗi bộ một khác. Việt sử lược chỉ kể Cửu Chân và Nhật Nam.3 Toàn thư thêm Nam Hải vào danh sách của Hậu Hán thư, và gọi đó là sáu mươi lăm thành Lĩnh Nam.2
Bà đóng đô ở đâu? Chính văn Hậu Hán thư chỉ chép tự lập làm vua, không nói ở đâu.1 Mê Linh đến từ hai nguồn phụ: Giao Châu ngoại vực ký, và sách Việt chí mà Lý Hiền dẫn trong lời chú, rằng Trưng Trắc dấy binh, đóng đô ở huyện Mê Linh.7 Các bộ sử Việt đều theo Mê Linh.32 Riêng bản dịch Việt điện u linh tập đặt nơi Hai Bà đóng ở Chu Diên.11
Về thời điểm, Hậu Hán thư chỉ cho năm: năm Kiến Vũ thứ mười sáu, tức năm 40.1 Toàn thư thêm mùa và tháng: mùa xuân, tháng Hai.2
Tới đây, sử nhà Hán và sử Việt đồng ý ở một điểm, dù mỗi bên chép bằng giọng khác nhau: năm 40, một người đàn bà ở Giao Chỉ đã tự lập làm vua.
Người đời nay đọc lại
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Năm 1979, nhà nghiên cứu Stephen O'Harrow ở Đại học Hawaii viết một bài bình duyệt về giai đoạn này. Ông ghi nhận giới nghiên cứu trước ông đã đồng thuận về hai nguyên nhân: người bản địa chối bỏ việc bị ép theo lối Hán, và tầng lớp quý tộc bản địa phản ứng khi quyền lực, uy thế của họ ngày càng mất. Ông cho hai lý do ấy quan trọng, nhưng chưa ai đào xuống xem bên dưới chúng là gì.15
Giả thuyết của riêng ông xoay quanh đất đai. Xã hội bản địa có thể theo mẫu hệ hoặc song hệ, điều mà chính ông viết là không thể chắc chắn. Người Hán di cư xuống tìm đất; nếu đất truyền theo bên nữ thì muốn có đất phải đổi tục hôn nhân sang kiểu Hán. Theo cách đọc ấy, rắc rối pháp lý của Trưng Trắc là chuyện quyền của bà trên ruộng đất gia tộc ở Mê Linh, và Tô Định dùng luật Hán tước đất ấy thì vừa phá được một khối quyền lực bản địa, vừa có đất chia cho phe mình.15 Đây là suy luận của ông, không phải điều sử liệu chép.
Ông cũng thấy đúng chỗ vênh mà bài này đi theo: sử Việt thêm việc Tô Định giết chồng bà, còn trong Giao Châu ngoại vực ký người chồng vẫn sống và dấy binh cùng bà. Lời giải thích của O'Harrow là những người chép sử Việt đời sau, đã thấm Nho giáo gia trưởng, không chấp nhận nổi việc một người đàn bà lãnh đạo khởi nghĩa khi chồng còn sống, nên đã viết lại.15
Đó cũng là một suy luận. Điều chắc chắn hơn nằm ngay trên mặt chữ các bộ sách bài này đối chiếu: người chồng chết trước khởi nghĩa là một chi tiết xuất hiện muộn, còn người đàn bà gan dạ, dũng cảm thì có mặt từ bản chép cổ nhất.
Tập sau: Ba năm Trưng Vương.
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Hậu Hán thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Thuỷ kinh chú
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Sử ký
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Hậu Hán thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Thuỷ kinh chú
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Hậu Hán thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt điện u linh tập
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử tiêu án
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt Nam sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
O'Harrow 1979 — Từ Cổ Loa tới khởi nghĩa Hai Bà Trưng
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn