Tập 3Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất và Hai Bà Trưng

Tích Quang, Nhâm Diên, Tô Định

Hậu Hán thư xếp hai viên thái thú nhà Hán vào thiên truyện quan tốt, vì một người đúc nông cụ cho dân Cửu Chân và ra lệnh cho hơn hai nghìn người Lạc Việt cưới nhau cùng một lúc. Chính những trang khen ấy cho thấy bộ máy cai trị nhìn người bị cai trị ra sao. Người thứ ba, Tô Định, chỉ còn lại một câu mười chữ.

1 lớp · 7 nguồn · Giọng đọc AI

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tập trước đếm hộ, đếm khẩu, kể tên từng quận huyện nhà Hán đặt trên đất cũ của Nam Việt. Nhưng bộ máy nào cũng phải có người ngồi ở đầu. Vậy sử nhà Hán kể những người ấy đã làm gì?

Nguồn chính của tập này là , do soạn ở thế kỷ thứ năm. Trong đó có ba viên thái thú đáng đọc chậm. Hai người được xếp vào thiên truyện dành cho những ông quan cai trị tốt. Người thứ ba được nhớ vì một lý do khác hẳn, và sách nói về ông ít tới mức gần như không có gì để kể.1

Có một điều nên giữ trong đầu suốt tập này: mọi câu dưới đây là lời của người cai trị viết về người bị cai trị.2

Người Giao Chỉ trong mắt người chép sử

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Trước khi tới các ông quan, hãy xem sách tả những người họ được sai tới cai trị. Quyển tám mươi sáu của Hậu Hán thư, phần chép về các dân phương Nam, có một đoạn ngắn về đất :

Phàm nơi Giao Chỉ thống lĩnh, tuy đặt quận huyện, mà tiếng nói mỗi nơi một khác, phải phiên dịch nhiều lần mới thông. Người như cầm thú, lớn nhỏ không phân biệt. Búi tóc sau gáy, đi chân đất, lấy vải khoét lỗ chui đầu mà mặc.2

Rồi sách kể sự đổi thay đến từ đâu: sau dời khá nhiều tội nhân Trung Quốc tới, cho ở lẫn vào giữa, mới dần biết tiếng nói, dần dà thấy được lễ hoá.2

Đoạn này không cần bình nhiều, nhưng có hai chỗ đáng dừng lại.

Chỗ thứ nhất. Câu đầu vừa nói người ở đây có tiếng nói, lại nhiều thứ tiếng tới mức phải dịch qua mấy lần. Câu cuối lại bảo phải đợi người Trung Quốc tới thì họ mới biết tiếng nói. Tiếng nói nào mới được tính là tiếng nói, người viết không thấy cần giải thích.

Chỗ thứ hai. Người mang lễ hoá tới, theo chính câu này, là tội nhân bị đưa đi đày. Người viết cũng không thấy điều đó có gì lạ.

Đây là lời của một sử gia Trung Hoa thế kỷ thứ năm. Nó cho biết người chép sử nhìn đất này ra sao, nhiều hơn là cho biết người ở đây sống ra sao.2

Bốn mươi chữ hay được trích

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Cũng trong quyển tám mươi sáu có một câu thường được trích mỗi khi nói về hai viên quan nhà Hán tốt với dân:

Quang Vũ trung hưng, Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên giữ Cửu Chân, bèn dạy dân cày cấy, chế ra mũ giày, mới đặt việc mối lái, mới biết cưới gả, dựng nhà học, dẫn dắt bằng lễ nghĩa.2

Cả câu chỉ có bốn mươi chữ Hán. Đó là toàn bộ chỗ hai người đứng chung trong quyển này. Không năm tháng, không nói họ ở đó bao lâu, không một cái tên người bản xứ nào. Chỉ một chuỗi việc, và việc nào cũng mở bằng "dạy", "chế ra", "mới đặt", "mới biết", như thể trước đó chưa có gì.

Nhưng và còn xuất hiện ở một quyển khác của cùng bộ sách. Ở đó chuyện có nhiều chi tiết hơn, đủ để đặt cạnh câu tóm tắt này mà so.1

Nhâm Diên và cái cày

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Quyển bảy mươi sáu của Hậu Hán thư là thiên Tuần lại liệt truyện, truyện những viên quan cai trị tốt. Nhâm Diên có một truyện riêng ở đó.

Ông tự là Trường Tôn, người đất Uyển, quận Nam Dương. Đầu niên hiệu Kiến Vũ của Quang Vũ, tức từ năm 25 trở đi, ông được triệu làm thái thú . Hoàng đế cho vào gặp, ban ngựa và lụa, cho vợ con ở lại Lạc Dương.1

Rồi sách tả vùng đất ông tới:

Tục Cửu Chân lấy săn bắn làm nghề, không biết cày bằng bò, dân thường phải mua thóc của Giao Chỉ, luôn đến nỗi túng thiếu.1

Nhâm Diên sai đúc nông cụ, dạy họ khai khẩn. Ruộng đất mỗi năm mở rộng thêm, trăm họ đủ ăn.1

Đọc kỹ thì câu này nói hẹp hơn nhiều so với câu bốn mươi chữ. Sách không nói người Cửu Chân không biết làm ruộng. Nó nói họ không biết cày bằng bò, và phải mua thóc của Giao Chỉ, tức ngay bên cạnh đã có người làm ra thóc để bán. Cái sách kể Nhâm Diên mang tới là nông cụ đúc, và việc khai khẩn thêm ruộng.

Sang câu tóm tắt ở quyển tám mươi sáu, việc ấy đã thành dạy dân cày cấy, và được gán cho cả hai ông quan.2

Hơn hai nghìn người cưới cùng một lúc

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Việc thứ hai trong truyện Nhâm Diên còn lạ hơn. Sách viết:

Dân Lạc Việt không có lễ pháp cưới gả, mỗi người theo thói dâm mà thích nhau, không có đôi lứa chính thức, không biết tính cha con, đạo vợ chồng.1

Cách giải quyết của viên thái thú là một tờ công văn. Ông gửi thư xuống các huyện, ra lệnh đàn ông từ hai mươi đến năm mươi tuổi, đàn bà từ mười lăm đến bốn mươi tuổi, đều lấy tuổi tác mà phối hợp. Ai nghèo không có đồ sính lễ thì các quan từ trưởng lại trở xuống bớt bổng lộc mà giúp.1

Kết quả được ghi bằng một con số: cùng một lúc lấy nhau hơn hai nghìn người.1

Sách nối thêm mấy câu nữa. Năm ấy mưa gió thuận mùa, lúa má tốt tươi. Những người sinh con mới biết đến dòng họ. Họ đều nói: khiến ta có đứa con này, là nhờ Nhâm quân đó. Và nhiều người đặt tên con là Nhâm.1

Hãy để ý cách đoạn văn được dựng. Người Lạc Việt xuất hiện hai lần. Lần đầu, họ là một đám đông không biết cha con, vợ chồng. Lần sau, họ là những người cảm ơn viên thái thú vì đứa con của chính mình. Ở giữa là một mệnh lệnh ghép đôi theo độ tuổi. Lời của người Cửu Chân mà sách chép lại là một lời cảm ơn.

Đoạn văn không cho biết hơn hai nghìn người ấy nghĩ gì khi được ghép đôi theo tuổi.1

Bốn năm, và một ngôi đền thờ lúc còn sống

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Truyện kể tiếp: các rợ ngoài cõi như Dạ Lang mến điều nghĩa mà giữ biên tái, nên Nhâm Diên cho thôi lính do thám và lính đồn thú.1

Rồi tới con số dễ bị bỏ qua nhất: Diên coi việc bốn năm. Ông được triệu về Lạc Dương, vì bệnh mà nấn ná, bị giáng làm huyện lệnh Tuy Dương. Và quan lại, dân Cửu Chân lập đền thờ sống cho ông. Sau đó ông được bổ làm thái thú Vũ Uy.1

Bốn năm. Mọi việc làm nên danh tiếng của ông ở Cửu Chân nằm gọn trong khoảng ấy. Sách không nói bốn năm đó là những năm nào, chỉ nói ông được bổ vào đầu niên hiệu Kiến Vũ. Ai ghi một khoảng năm cụ thể là đang tính ra, không phải đang trích.1

Tích Quang, người không có truyện riêng

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Còn Tích Quang thì sao? Ông không có truyện riêng. Mấy dòng về ông nằm lồng trong truyện Nhâm Diên, mở bằng một chữ "trước":

Trước, thời Bình Đế, Tích Quang người Hán Trung làm thái thú Giao Chỉ, dạy dỗ dân và người Di, dần dần bằng lễ nghĩa, tiếng giáo hoá ngang với Diên.1

Chữ đáng chú ý là thời Bình Đế, tức mấy năm đầu Công nguyên, khoảng hai mươi năm trước khi Quang Vũ lên ngôi. Tích Quang không phải người Quang Vũ sai sang. Ông đã ngồi ở Giao Chỉ từ triều trước, và sách chép tiếp những gì ông làm khi mọi thứ ở phương Bắc đổ vỡ:

Cuối đời Vương Mãng thì đóng cửa cõi mà chống giữ. Đầu niên hiệu Kiến Vũ, sai sứ cống hiến, được phong Diêm Thuỷ hầu.1

Ai đã nghe tập về Triệu Đà sẽ thấy cảnh này quen: triều đình phương Bắc rối loạn, viên quan giữ đất phương Nam đóng cửa lại. Nhưng Tích Quang không tự xưng vương. Khi thiên hạ có chủ mới, ông sai sứ mang cống vật lên, và được phong hầu.

Đọc riêng câu bốn mươi chữ ở quyển tám mươi sáu, người ta dễ hiểu rằng hai ông quan cùng được sai sang khi Quang Vũ trung hưng. Quyển bảy mươi sáu cho thấy khác: một người đã ở đó từ triều trước, người kia tới sau.2

Đoạn về Tích Quang khép lại bằng câu tự khen rõ nhất trong cả câu chuyện:

Phong hoá Trung Hoa ở Lĩnh Nam bắt đầu từ hai vị thái thú ấy vậy.1

Tính từ khi nhà Hán diệt Nam Việt và đặt quận, đến thời Bình Đế đã hơn một trăm năm.3 Nếu tin câu này, thì cả trăm năm quận huyện trước đó chưa đổi được phong tục gì. Chính quyển tám mươi sáu cũng mở đoạn tả người Giao Chỉ bằng đúng ý ấy: tuy đặt quận huyện, mà tiếng nói vẫn mỗi nơi một khác.2

Lời khen cuối thiên

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Phạm Diệp còn nhắc hai cái tên này một lần nữa, trong lời tổng luận của cả thiên truyện quan tốt. Ông kể những người đáng khen nhất. Có Đỗ Thi giữ quận Nam Dương, được dân gọi là Đỗ mẫu, tức mẹ Đỗ. Và có Nhâm Diên, Tích Quang làm biến đổi phong tục biên cương, đó là những người có công dụng rõ rệt nhất vậy.4

Thước đo được nói thẳng ra ngay trong câu. Truyện Nhâm Diên có chép ruộng mở rộng, trăm họ đủ ăn. Nhưng tới lời tổng kết, cái được gọi là công lớn nhất của hai ông là đã đổi phong tục của người ở biên cương.4

Người thứ ba: một câu, mười chữ

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Và rồi tới .

Nếu Tích Quang chỉ có mấy dòng lồng trong truyện người khác, thì Tô Định còn ít hơn nhiều. Trong các quyển Hậu Hán thư chép về đất này, gồm truyện các dân phương Nam, truyện và thiên truyện quan tốt, tên ông xuất hiện trong chính văn đúng một lần, ở quyển tám mươi sáu. Đó là một câu mười chữ Hán, gồm chức của ông, tên ông, và một việc ông làm.2

Chức ấy là thái thú Giao Chỉ, đúng cái ghế Tích Quang từng ngồi. Sách không chép Tích Quang rời ghế lúc nào, cũng không chép Tô Định tới lúc nào.

Ngoài câu ấy thì không còn gì. Không tên tự, không quê quán, không chức vụ trước hay sau, không một dòng về số phận của ông về sau.2 Ngay trong truyện Mã Viện, người được sai sang đánh dẹp, chính văn không nhắc tên Tô Định lần nào. Tên ông chỉ hiện ra ở đó khi lời chú đời Đường của Lý Hiền chép lại đúng câu của quyển tám mươi sáu.5

Đặt ba người cạnh nhau thì thấy rõ. Nhâm Diên có tên tự, quê quán, bốn năm làm việc, một ngôi đền thờ sống, một chức mới. Tích Quang có quê, có tước hầu. Tô Định có mười chữ. Bộ sử này chép kỹ những ông quan nó muốn khen.

Câu mười chữ ấy nằm giữa đoạn sách chép về năm Kiến Vũ thứ mười sáu, tức năm 40, năm cả vùng nổi dậy. Tô Định là người đang giữ chức thái thú khi biến nổ ra.2 Sử Việt đời sau sẽ chép về ông nhiều hơn chính bộ sử nhà Hán, nhưng những chữ thêm vào ấy nằm trong đoạn kể vì sao cuộc nổi dậy bùng lên, và thuộc về câu chuyện kế tiếp.67

Tập sau: Hai Bà Trưng khởi nghĩa, năm 40.

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 76, Tuần lại liệt truyện, truyện Nhâm Diên, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  2. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 86, Nam Man Tây Nam Di liệt truyện, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  3. Hán thư

    Bộ sử nhà Tây Hán của Ban Cố; chép bài sớ do chính Lưu An ký tên kể cuộc chiến ở đất Việt gọn hơn hẳn sách của ông, và chép số người Âu Lạc ra hàng năm 111 trước Công nguyên. · quyển 95, Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên truyện, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  4. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 76, Tuần lại liệt truyện, lời tổng luận của Phạm Diệp, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  5. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 24, Mã Viện liệt truyện, chính văn và lời chú của Lý Hiền đời Đường

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  6. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ, Kỷ Trưng Nữ Vương, tờ 2a, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  7. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 2, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn