Nhân vật

Ngô Sĩ Liên

Sử thần thời Lê, người biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư khoảng năm 1479 và đưa họ Hồng Bàng vào đầu quốc sử.

Hồ sơ

Niên đại
Bài không cho năm sinh năm mất, chỉ định vị bằng thế kỷ: ông chép chuyện rùa vàng vào quốc sử ở thế kỷ XV, bốn trăm năm trước khi bộ Cương mục triều Nguyễn đẩy con rùa ấy xuống phần chú12
Vai trò
Người chép chính sử của Đại Việt — soạn phần Ngoại kỷ của Đại Việt sử ký toàn thư, chép truyền thuyết vào quốc sử rồi viết lời bàn ngay sau đó để nói rõ chỗ mình tin và chỗ mình ngờ1

Tiểu sử

Sử cũ chép

Chỗ dễ thấy nhất ở lối chép của ông là ông không giấu nguồn. Khi chép câu Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân, ông chua thêm một đoạn: xét sách sử đời Đường chép rằng thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của họ Kinh Xuyên, bị ruồng bỏ, phải nhờ một người tên Liễu Nghị mang thư về tâu với cha. Rồi ông kết luận rằng họ Kinh Xuyên và họ Động Đình đời đời thông gia với nhau đã từ lâu. Ông dẫn tích ấy ra để củng cố câu chuyện, coi đó là bằng chứng.3

Với truyền thuyết thì ông chép dè dặt. Thánh Gióng và Sơn Tinh – Thuỷ Tinh mỗi truyện chỉ được vài câu, chép xong là phê ngay rằng chuyện quái đản, tin sách chẳng bằng không có sách. Nhưng chỗ đáng chú ý hơn là chỗ ông im lặng: đọc hết quyển Ngoại kỷ thứ nhất, từ Kinh Dương Vương tới hết An Dương Vương, không có một chữ nào về Lang Liêu hay hai thứ bánh. Câu chuyện Tết quen nhất của người Việt không nhận được lời phê nào của ông, vì không có truyện nào để phê.4

Lời bàn ông viết ngay sau chuyện nỏ thần cho thấy ông ngờ có chọn lọc. Câu mở đầu hỏi thẳng thuyết rùa vàng có đáng tin chăng, rồi ông tự trả lời rằng chuyện thần giáng, chuyện đá biết nói, hoặc giả cũng có. Cái ông bác chỉ là một chi tiết: chuyện Mỵ Châu rắc lông ngỗng làm dấu đường thì chưa chắc đã có. Lý do là một nhận xét về văn bản chứ không phải về phép lạ — nếu có thì chỉ nên chép một lần là đủ, vậy mà con gái Triệu Việt Vương sau này lại được chép mô phỏng y như thế. Ông đoán rằng người chép sử thấy cớ mất nước của nhà Thục và nhà Triệu đều do con rể, nhân một việc mà nói thành hai.1

Ông kết lời bàn bằng một câu đáng đọc chậm. Sử chép An Dương Vương bại vì nỏ thần bị thay lẫy, Triệu Việt Vương bại vì mũ đâu mâu mất móng, ấy chỉ là mượn lời để thần thánh hoá đồ vật mà thôi. Còn giữ nước chống giặc thì tự có đạo của nó: được đạo thì nhiều người giúp mà hưng, mất đạo thì ít người giúp mà mất, chứ không phải vì những chuyện ấy. Người chép chính sử của Đại Việt, ở ngay trang vừa chép xong chuyện rùa vàng, nói rằng cái nỏ không phải là lý do mất nước.1

Đời sau nhớ lại

Lời cảnh báo ấy hầu như không đi cùng câu chuyện. Ông cố ý đặt nó ngay cạnh trang mình vừa chép, dặn đừng đọc chuyện nỏ thần như lời giải thích cho việc mất nước; nhưng sáu trăm năm nay phần được kể lại là rùa vàng, lông ngỗng và nhát gươm, còn lời bàn thì gần như không được kể lại lần nào. Bản kể mà ta thuộc hôm nay giữ phần bi thương và bỏ phần chính trị.1

Được nhắc trong

  1. Tập 2Kinh Dương Vương và dòng dõi Thần Nông7 phút
  2. Tập 4Nỏ thần, Mỵ Châu – Trọng Thuỷ8 phút
  3. Tập 10Bánh chưng bánh giầy và Lang Liêu7 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 1, kỷ An Dương Vương và lời bàn của Ngô Sĩ Liên

    Về đoạn văn