Thời kỳ
Bắc thuộc lần thứ nhất và Hai Bà Trưng
Từ khi nhà Hán diệt Nam Việt năm 111 trước Công nguyên và chia đất ấy làm quận huyện, tới khi cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng chấm dứt năm 43. Nguồn chính là sử nhà Hán; các bộ sử Việt chép về nó muộn hơn nhiều thế kỷ.
Hồ sơ
- Tên khác
- Trong Toàn thư là Kỷ thuộc Tây Hán, rồi Kỷ Trưng Nữ Vương; Việt Nam sử lược mở phần Bắc thuộc thời đại ngay từ năm 111 trước Công nguyên123
- Niên đại
- 111 trước Công nguyên – 43: mở khi quân Hán phá Phiên Ngung vào mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ sáu; khép năm 43, khi cuộc kháng cự của Hai Bà chấm dứt trước quân Hán — truyện Mã Viện chép tháng Giêng, thiên về các tộc phương Nam chép mùa hạ tháng Tư456
Tổng quan
Sử cũ chép
Không phải nguồn nào cũng mở thời kỳ này ở năm 111. Sử ký và Hán thư tách hai mốc: xuất quân mùa thu năm Nguyên Đỉnh thứ năm, tức 112 trước Công nguyên, phá thành Phiên Ngung mùa đông năm thứ sáu, tức 111. Thuỷ kinh chú còn lệch xa hơn: Hán Vũ Đế năm Nguyên Đỉnh thứ hai mới gồm Bách Việt, mở bảy quận. Sử Việt thì khép nhà Triệu ở cùng năm Canh Ngọ, tức 111, dù mỗi bộ mở đầu nhà Triệu ở một năm khác. Việt Nam sử lược mở phần Bắc thuộc thời đại ngay từ năm ấy, và Toàn thư, hết Kỷ nhà Triệu, chuyển sang Kỷ thuộc Tây Hán.479101131
Sử ký chỉ chép bèn làm chín quận; danh sách tên nằm ở Hán thư. Nhưng Địa lý chí của chính Hán thư chỉ kê bảy quận đất Việt, vì hai quận trên đảo là Đam Nhĩ và Chu Nhai, nơi quan lại quân lính người Trung Quốc phần nhiều lấn hiếp dân nên cứ vài năm lại một lần làm phản, đã bị bỏ dưới đời Nguyên Đế. Bài sớ của Giả Quyên Chi trong Hán thư lại chép nhà Hán đặt tám quận, một con số không khớp với mốc nào. Địa lý chí còn để lại bảng hộ khẩu năm 2 cho từng quận: ba quận phía nam là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam gộp lại có 143.643 hộ, 981.735 khẩu, gần một triệu người, chưa tới hai phần trăm số khẩu của cả đế quốc Hán.47812
Sử nhà Hán kể về những người ngồi đầu bộ máy cai trị bằng giọng của chính bộ máy ấy. Hậu Hán thư xếp hai viên thái thú Tích Quang ở Giao Chỉ và Nhâm Diên ở Cửu Chân vào thiên truyện quan cai trị tốt. Nhâm Diên cho đúc nông cụ, dạy dân khai khẩn, và ra lệnh cho hơn hai nghìn người Lạc Việt cưới nhau cùng một lúc theo tuổi. Tích Quang, ngồi ở Giao Chỉ từ thời Bình Đế, cuối đời Vương Mãng đóng cửa cõi mà chống giữ, rồi sai sứ cống hiến và được phong hầu. Đoạn về ông khép lại bằng câu: phong hoá Trung Hoa ở Lĩnh Nam bắt đầu từ hai vị thái thú ấy vậy.13
Năm 40, Trưng Trắc tự lập làm vua; năm 43 mọi chuyện chấm dứt. Hậu Hán thư gói ba năm ấy trong mấy chữ tự lập làm vua, rồi quay sang chép phía nhà Hán sắm xe thuyền, trữ lương thóc. Các bộ sử Việt xếp ba năm ấy mỗi bộ một kiểu. Việt sử lược không có kỷ nào cho Hai Bà, chuyện của bà nằm dưới mục từ Mã Viện. Toàn thư lập hẳn Kỷ Trưng Nữ Vương, dài vỏn vẹn hai tờ. Cương mục của triều Nguyễn cố ý xoá kỷ, vì cho rằng họ Trưng dấy binh báo thù mà chưa thành nước, và chép phụ vào niên kỷ thuộc Hán.614215
Mùa xuân năm 42 quân Mã Viện phá quân Hai Bà ở Lãng Bạc. Về kết cục, Hậu Hán thư tự vênh với mình: truyện Mã Viện nói tháng Giêng năm 43 chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, truyền đầu về Lạc Dương; thiên về các tộc phương Nam nói mùa hạ tháng Tư. Ở phía sử Việt, Toàn thư đánh dấu khúc ngoặt này bằng bốn chữ đặt ngay sau Cấm Khê: quốc thống lại đứt. Còn Hai Bà mất vào tháng nào, bằng cách nào, thì mỗi nguồn chốt bằng một chữ riêng, mỗi thế kỷ để lại một câu trả lời riêng. Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất và ba năm của Hai Bà Trưng khép lại ở đây.561617
Các tập
- Tập 1Hán diệt Nam Việt, năm 111 TCN10 phút
- Tập 2Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam11 phút
- Tập 3Tích Quang, Nhâm Diên, Tô Định9 phút
- Tập 4Hai Bà Trưng khởi nghĩa, năm 4011 phút
- Tập 5Ba năm Trưng Vương6 phút
- Tập 6Mã Viện: Lãng Bạc và Cấm Khê10 phút
Nguồn của trang này
Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn