Tập 5Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất và Hai Bà Trưng
Ba năm Trưng Vương
Từ năm 40 tới năm 43 đất Giao Chỉ có một người đàn bà làm vua, vậy mà chính sử Trung Hoa gói ba năm ấy trong mấy chữ tự lập làm vua, còn bộ quốc sử đời Lê dành cho cả một kỷ vỏn vẹn hai tờ. Đời sau cãi nhau xem đó có phải là một nước hay không, và nhớ về nó bằng đền thờ, lễ hội.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Năm 40, Trưng Trắc tự lập làm vua. Năm 43, mọi chuyện chấm dứt. Ở giữa là ba năm đất Giao Chỉ có một người đàn bà làm vua.
Bà cai trị ra sao? Ai làm quan, ban lệnh gì, xử kiện theo luật nào? Câu trả lời thật thà nhất là gần như không ai biết. Bộ quốc sử đời Lê lập hẳn một kỷ cho bà, và kỷ ấy dài vỏn vẹn hai tờ.1
Sử Trung Hoa: mấy chữ, rồi quay đi
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Hậu Hán thư chép cuộc nổi dậy ở hai quyển, và cả hai chỗ đều gói ba năm ấy trong cùng một cụm: Trắc tự lập làm vua.23
Ở quyển 86, ngay câu kế tiếp, ngòi bút quay sang phía nhà Hán. Thứ sử Giao Chỉ và các thái thú chỉ vừa đủ tự giữ mình. Quang Vũ xuống chiếu cho Trường Sa, Hợp Phố, Giao Chỉ sắm xe thuyền, sửa đường cầu, khơi khe suối, trữ lương thóc. Rồi đến năm 42, nhà Hán sai tướng đem quân xuống.2
Tức là ở đúng chỗ ba năm ấy, bộ chính sử này chép chuyện bên kia chuẩn bị. Còn người đàn bà đã tự lập làm vua ở đâu, làm gì, đặt ai giữ việc gì, đoạn văn ấy không có một dòng.
Ngay cả kinh đô cũng không nằm trong chính văn. Phải xuống tầng chú: lời chú đời Đường của Lý Hiền dẫn một sách đã mất là Việt chí, chép Trưng Trắc dấy binh, đóng đô ở huyện Mê Linh.4
Một sách đã mất khác, Giao Châu ngoại vực ký, được Thuỷ kinh chú dẫn lại, cho thêm đúng một nét về cách bà nắm quyền: bà khuất phục các Lạc tướng, tất cả đều quy về Trưng Trắc làm vua, đặt trị sở ở huyện Mê Linh.5 Đứng dưới bà là các Lạc tướng, những người mang cùng danh hiệu với cha bà.
Toàn thư: một kỷ dài hai tờ
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Đại Việt sử ký toàn thư làm khác: nó cho bà một kỷ riêng, Kỷ Trưng Nữ Vương, đặt giữa kỷ thuộc Tây Hán và kỷ thuộc Đông Hán. Trong mạch quốc sử, ba năm ấy là một triều.1
Nhưng hai tờ ấy phải chở từ thân thế, lý do khởi binh, sáu mươi lăm thành, cho tới trận cuối. Về chính thời trị vì, điều Toàn thư cho được là bà đóng đô ở Mê Linh, cùng một chi tiết lạ: chính văn nói bà vốn họ Lạc, rồi ở đoạn sau chép bấy giờ mới xưng là họ Trưng.1
Đáng để ý hơn là cách chính bộ sử ấy gọi tên ba năm này. Lời chua in nhỏ ở đầu kỷ nói vua đuổi Tô Định, dựng nước xưng vương, nhưng vì là vua đàn bà nên không làm nên được công tái tạo. Tới đoạn quân của bà tan chạy, chính văn chép bốn chữ quốc thống phục tuyệt, quốc thống lại đứt; chữ "lại" nghĩa là mạch nước đã từng nối được.1
Ngô Sĩ Liên dè dặt hơn một chút. Lời bàn của ông nói họ Trưng vung tay hô một tiếng mà quốc thống nước Việt ta gần như hợp lại.6
Còn Lê Văn Hưu thì khen thẳng: hai người đàn bà hô một tiếng mà sáu mươi lăm thành hưởng ứng, dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay. Rồi ông quay sang trách đàn ông suốt hơn nghìn năm, từ sau nhà Triệu tới trước họ Ngô, chỉ biết cúi đầu làm tôi tớ người phương Bắc.7
Xoá kỷ: "chưa thành nước"
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Cách xếp của Toàn thư không phải cách duy nhất. Việt sử lược, soạn khoảng thế kỷ mười bốn, có kỷ cho nhà Triệu nhưng không có kỷ nào cho Hai Bà. Chuyện của bà nằm trong mục các quan thủ nhậm qua các đời, dưới mục từ Mã Viện, tức dưới tên chính viên tướng đã chấm dứt ba năm ấy.8
Đến thế kỷ mười chín, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn cố ý xoá kỷ. Phàm lệ có một điều khoản riêng:
Họ Trưng dấy binh báo thù, chưa thành nước. Sĩ Nhiếp phụng mệnh đến trấn thủ, chưa từng xưng vương. So với An Dương Vương, Triệu Việt Vương thì có khác. Sử cũ đều chép riêng thành một kỷ; nay xoá đi, chỉ nhân việc mà chép thẳng để giữ sự thực, vẫn phụ vào niên kỷ thuộc Hán.9
Điều khoản không giảng thế nào mới gọi là thành nước. Nhưng hệ quả thấy ngay trong chính văn: cuộc khởi binh thành một mục dưới năm Canh Tý, Hán Kiến Vũ năm thứ mười sáu, và người đứng đầu được gọi là người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc.10 Đó đúng từng chữ là cụm Hậu Hán thư dùng để mở chuyện này.2
Trớ trêu là cùng bộ sách ấy có lời phê của vua Nguyễn khen hết lời: hai bà Trưng phận quần thoa mà dấy việc nghĩa, làm chấn động triều Hán; tuy thế yếu thời trái, cũng đủ làm lòng người dấy lên, để lại ánh sáng trong sử sách.10 Xoá kỷ là việc của thể lệ chép sử, không phải lời chê.
Lập kỷ hay xoá kỷ, hai phía đứng trên cùng một nền dữ kiện mỏng: một kinh đô ở Mê Linh, một danh hiệu vua, và ba năm.
Sử chép ít, đền thờ nhớ nhiều
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Người đời sau không nhớ ba năm ấy bằng sổ sách. Họ nhớ bằng đền.
Chuyện này có ngay trong quốc sử. Toàn thư, sau khi chép quân Hán rút về, ghi rằng người địa phương thương mến Trưng Nữ Vương, lập đền thờ phụng; lời chua thêm rằng đền ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc, và ở đất cũ thành Phiên Ngung cũng có.11 Cương mục chua đền ở xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ.10 Năm 1160, đời Lý Anh Tông, Toàn thư chép triều Lý làm đền Hai Bà ở phường Bố Cái.12
Đến thế kỷ mười lăm, Hai Bà đã là thần. Ngô Sĩ Liên viết họ Trưng sau khi mất còn chống ngăn được tai hoạ; hễ gặp hạn hán lụt lội, đến cầu đảo thì không việc gì không linh ứng, và em gái bà là Trưng Nhị cũng vậy.6
Thế kỷ mười tám, Ngô Thì Sĩ ghi trong Việt sử tiêu án rằng ở đền Hai Bà đồ thờ đều sơn đen, người đến lễ mặc áo đỏ phải cởi ra; tục truyền Trưng Vương mất vì binh đao nên kiêng màu đỏ, vì nó giống máu.13
Ba đền, ba ngày hội
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Ngày nay, theo trang thông tin chính thức của các cơ quan văn hoá nhà nước, tức nguồn thứ cấp chứ không phải sử liệu, có ba nơi thờ chính, mỗi nơi mở hội một ngày khác nhau.
Đền ở thôn Hạ Lôi, Mê Linh, chính hội mồng sáu tháng Giêng, được ghi là ngày Hai Bà mở tiệc khao quân.14 Đền Hát Môn mở hội mồng sáu tháng Ba.15 Cụm đền, chùa, đình ở Đồng Nhân, Hà Nội, mở hội mùng sáu tháng Hai, ghi là ngày Hai Bà hoá.16
Có một chỗ chưa khớp. Việt Nam sử lược năm 1920 chua rằng ở làng Hát Môn và ở bãi Đồng Nhân đến ngày mồng sáu tháng hai thì có hội; hồ sơ di tích hiện nay ghi hội Hát Môn là mồng sáu tháng Ba.1715 Chưa truy được ngày ấy đổi từ lúc nào.
Trong ba ngày hội, chỉ một ngày gắn với lúc Hai Bà còn làm vua, là tiệc khao quân ở Hạ Lôi, và ngày ấy do hồ sơ di tích ghi lại.14
Những chi tiết còn lại thì đến từ nơi khác nữa. Trang hồ sơ đền Hát Môn ghi rõ nó dựa theo cuốn thần tích của làng: có Gò Giấu Ấn, tương truyền là nơi Hai Bà cất giấu ấn tín; có đàn Thề với cột đá khắc lời thề, nhưng trang không in lời thề ấy ra.15 Đền Hạ Lôi thờ cả cha mẹ Hai Bà và cha mẹ Thi Sách,14 trong khi các bộ sử kể trên chỉ chép cha bà là một Lạc tướng huyện Mê Linh, không có tên.1
Sử cũ dành cho ba năm Trưng Vương vài dòng và cãi nhau có nên gọi đó là một triều. Còn một cái ấn, một bữa khao quân, những thứ làm cho một triều đại có hình hài, thì nằm trong thần tích và ngày hội của làng.
Tập sau: Mã Viện: Lãng Bạc và Cấm Khê.
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Hậu Hán thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Hậu Hán thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Hậu Hán thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Thuỷ kinh chú
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Việt sử tiêu án
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Cục Di sản văn hoá — Di tích lịch sử đền Hai Bà Trưng ở Mê Linh
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Cục Di sản văn hoá — Di tích lịch sử đền Hát Môn
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Sở Văn hoá và Thể thao Hà Nội — Di tích quốc gia đặc biệt Đền, Chùa, Đình Hai Bà Trưng
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Việt Nam sử lược
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn