Địa danh

Nhật Nam

Trong bảy quận đất Việt thời Hán, đây là quận cách kinh đô Lạc Dương xa nhất theo số dặm phần chí quận huyện của Tư Mã Bưu ghi, và ít người nhất trong ba quận phía nam. Địa lý chí của Hán thư đặt tên nó ở đầu một con đường biển đo bằng tháng.

Hồ sơ

Vị trí
Cách kinh đô Lạc Dương 13.400 dặm theo phần chí quận huyện của Tư Mã Bưu — xa hơn mọi quận khác của đất Việt1
Loại hình
Quận nhà Hán gồm 5 huyện, trong đó có Tượng Lâm. Bảng năm 2 ghi 15.460 hộ, 69.485 khẩu; bảng khoảng năm 140 trong phần chí của Tư Mã Bưu ghi 18.263 hộ, 100.676 khẩu21
Niên đại
Theo thiên chép chuyện diệt Nam Việt trong Hán thư, đặt năm 111 trước Công nguyên, cùng lúc với tám quận kia3

Về nơi này

Sử cũ chép

Nhật Nam ít người nhất trong ba quận phía nam, nhưng tên nó đứng đầu một đoạn văn lạ trong Địa lý chí của Hán thư: từ đồn ải Nhật Nam, Từ Văn, Hợp Phố đi thuyền chừng năm tháng thì tới nước Đô Nguyên; rồi qua các nước Ấp Lô Một, Thầm Ly, Phu Cam Đô Lô, thêm hơn hai tháng thuyền mới tới nước Hoàng Chi. Đường không đo bằng dặm, mà bằng tháng. Đi trên đường ấy có viên dịch trưởng thuộc Hoàng Môn cùng những người ứng mộ, mang vàng và các thứ lụa ra biển mua minh châu, bích lưu ly, đá lạ, vật lạ.2

Sách còn chép một chuyến có tên có tuổi. Khoảng niên hiệu Nguyên Thuỷ, Vương Mãng phụ chính, muốn phô uy đức, bèn tặng hậu cho vua Hoàng Chi, khiến vua ấy sai sứ dâng một con tê ngưu sống. Rồi sách tả đường về: từ Hoàng Chi đi thuyền chừng tám tháng tới Bì Tông, thêm tám tháng nữa thì tới địa giới Nhật Nam, Tượng Lâm — Tượng Lâm là một trong năm huyện của Nhật Nam. Hoàng Chi hay Bì Tông ứng với nơi nào ngày nay thì Hán thư không giúp; sách chỉ cho số tháng trên thuyền. Nhưng điểm đi và điểm về đều mang tên Nhật Nam.2

Bảng hộ khẩu năm 2 trong Địa lý chí ghi Nhật Nam có 15.460 hộ, 69.485 khẩu, ít nhất trong ba quận phía nam; chia ra chừng bốn người rưỡi một hộ, không khác mặt bằng chung. Khoảng năm 140, bảng thứ hai trong phần chí quận huyện của Tư Mã Bưu đời Tấn, ghép vào Hậu Hán thư, ghi Nhật Nam có 18.263 hộ, 100.676 khẩu, đông hơn con số năm 2. Cũng phần chí ấy đo đường từ kinh đô Lạc Dương xuống Nhật Nam là 13.400 dặm, trong khi mọi quận khác của đất Việt đều gần kinh đô hơn.21

Năm 40, khi Trưng Trắc nổi dậy ở Giao Chỉ, Hậu Hán thư chép người Man, người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, cướp được cả thảy sáu mươi lăm thành; thứ sử Giao Chỉ và các thái thú chỉ vừa đủ tự giữ mình. Man và Lý là những tên mà sử nhà Hán dùng để gọi cư dân các quận ấy. Các bộ sử Việt giữ con số sáu mươi lăm, nhưng danh sách nơi hưởng ứng thì khác: Việt sử lược chỉ kể Cửu Chân và Nhật Nam.45

Được nhắc trong

  1. Tập 1Hán diệt Nam Việt, năm 111 TCN10 phút
  2. Tập 2Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam11 phút
  3. Tập 4Hai Bà Trưng khởi nghĩa, năm 4011 phút
  4. Tập 4Giao Châu thời Lưỡng Tấn – Nam Bắc triều11 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Hậu Hán thư

    Quận quốc chí phần năm — phần chí của Tư Mã Bưu đời Tấn ghép vào bộ sách, gồm cả các dòng chú kèm tên quận

    Về đoạn văn

  2. Hán thư

    quyển 28, Địa lý chí, chính văn — phần đất Việt, bảng hộ khẩu các quận và lời tổng kết cuối thiên

    Về đoạn văn

  3. Hán thư

    quyển 95, Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên truyện, chính văn — câu lập chín quận

    Về đoạn văn

  4. Hậu Hán thư

    quyển 86, Nam Man Tây Nam Di liệt truyện, chính văn của Phạm Diệp

    Về đoạn văn

  5. Việt sử lược

    quyển thượng, mục Lịch đại thủ nhậm, dưới tên Mã Viện

    Về đoạn văn