Nhân vật

Trưng Trắc

Con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, năm 40 cùng em gái Trưng Nhị nổi dậy ở Giao Chỉ dưới quyền thái thú Tô Định rồi tự lập làm vua; cuộc kháng cự chấm dứt trước quân Mã Viện. Vì sao bà khởi binh, và bà mất lúc nào, ra sao, mỗi bộ sử chép một khác.

Hồ sơ

Tên khác
Trưng Nữ Vương — tên kỷ riêng Toàn thư lập cho bà; chính văn Toàn thư nói bà vốn họ Lạc, rồi ở đoạn sau chép bấy giờ mới xưng là họ Trưng1
Niên đại
Nổi dậy và tự lập làm vua năm 40, năm Kiến Vũ thứ mười sáu — Toàn thư thêm mùa xuân, tháng Hai; truyện Mã Viện trong Hậu Hán thư chép bà bị chém tháng Giêng năm 43, các nguồn khác cho mốc khác234
Vai trò
Người đứng đầu cuộc nổi dậy năm 40: theo Giao Châu ngoại vực ký, bà đánh phá châu quận, khuất phục các Lạc tướng, tất cả theo về bà làm vua; theo Hậu Hán thư, người Man, người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được sáu mươi lăm thành — thiên Mã Viện của cùng bộ sách lại chép hơn sáu mươi thành524
Quê quán
Huyện Mê Linh, nơi cha bà làm Lạc tướng2
Gia tộc
Con gái Lạc tướng huyện Mê Linh — người cha chỉ có chức danh, không có tên trong các bộ sử được đối chiếu; em gái là Trưng Nhị; chồng là người Chu Diên, con Lạc tướng Chu Diên, tên đọc là Thi Sách theo Hậu Hán thư hoặc Thi theo một cách ngắt câu Giao Châu ngoại vực ký235
Kết cục
Mỗi nguồn một lời. Hậu Hán thư: bị chém — truyện Mã Viện nói tháng Giêng năm 43, truyền đầu về Lạc Dương, thiên các tộc phương Nam nói mùa hạ tháng Tư; sách Việt chí do Lý Hiền dẫn: chạy vào hang Kim Khê, hai năm mới bắt được; Việt sử lược: bị Mã Viện giết; Toàn thư: thế cô, đều hãm một; Cương mục: thua chết, lời chua dẫn thêm bản trốn vào hang; Việt Nam sử lược năm 1920: gieo mình xuống sông Hát mà tự tận467891011
Chép sớm nhất
Giao Châu ngoại vực ký, sách về đất Giao Châu viết khoảng thế kỷ IV, đã mất, chỉ còn qua lời dẫn của Thuỷ kinh chú; trong sử nhà Hán là Hậu Hán thư của Phạm Diệp, soạn ở thế kỷ V52
Thờ tự
Toàn thư chép người địa phương lập đền thờ, lời chua ghi đền ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc, và cả ở đất cũ thành Phiên Ngung; ngày nay ba nơi thờ chính là đền ở thôn Hạ Lôi (Mê Linh), đền Hát Môn và cụm đền, chùa, đình ở Đồng Nhân (Hà Nội), theo trang của các cơ quan văn hoá nhà nước — nguồn thứ cấp12131415

Tiểu sử

Sử cũ chép

Hậu Hán thư, soạn ở thế kỷ V, giới thiệu bà bằng hai quan hệ: con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, vợ của Thi Sách người Chu Diên. Người cha không có tên, chỉ có chức danh; hơn một nghìn năm sau Toàn thư cũng chỉ chép bà là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh. Giao Châu ngoại vực ký, một sách đã mất còn lại qua Thuỷ kinh chú, gọi người chồng là con trai Lạc tướng Chu Diên, nên cuộc hôn nhân nối hai dòng họ nắm quyền ở hai huyện. Những cái tên cha mẹ Hai Bà hay được kể ngày nay không nằm trong bộ sử nào ở đây; chúng đến từ thần tích.235

Lý do khởi binh đổi dạng theo năm các sách được viết. Giao Châu ngoại vực ký không nêu lý do nào, chỉ tả một người đàn bà gan dạ, dũng cảm, cùng chồng dấy binh. Hậu Hán thư chép Tô Định lấy pháp luật mà trói buộc, bà tức giận nên làm phản — người bị trói buộc là bà, không phải chồng bà. Việt sử lược thêm: việc làm không theo phép. Toàn thư giữ lý do pháp luật và thêm mối thù Tô Định đã giết chồng bà; trong các sách được đối chiếu, đây là lần đầu chi tiết ấy được chép rõ. Việt sử tiêu án cho bà ra quân khi chưa hết tang chồng; Cương mục chép Tô Định tham bạo, Việt Nam sử lược năm 1920 chép ông bạo ngược, và cả hai chép ông giết chồng bà.5283161718

Chính văn Hậu Hán thư gói ba năm bà làm vua trong một cụm: tự lập làm vua, không nói ở đâu. Kinh đô Mê Linh đến từ sách Việt chí mà Lý Hiền đời Đường dẫn trong lời chú, và từ Giao Châu ngoại vực ký, theo đó bà khuất phục các Lạc tướng, tất cả quy về bà làm vua. Toàn thư lập cho bà một kỷ riêng, dài vỏn vẹn hai tờ. Việt sử lược không có kỷ nào cho Hai Bà; chuyện của bà nằm dưới tên Mã Viện. Cương mục của triều Nguyễn cố ý xoá kỷ vì cho rằng họ Trưng chưa thành nước, dù cùng bộ sách ấy có lời phê của vua Nguyễn khen hết lời.275181920

Ngay cả hướng đi về nơi cuối cùng cũng tuỳ người chép. Trong Hậu Hán thư, Cấm Khê là nơi Mã Viện đuổi bọn Trưng Trắc tới, mấy lần đánh bại. Trong Toàn thư, đó là nơi chính Trưng Vương thấy thế giặc quá mạnh nên lui về giữ, và quân sĩ vì vua là đàn bà mà bỏ chạy tan. Lý Hiền đời Đường đặt ngay sau câu truyền đầu về Lạc Dương một lời chú nói bà chạy vào hang Kim Khê, hai năm mới bắt được, và chép cả hai không phân xử. Cương mục mười hai thế kỷ sau xếp y như vậy: bản chết ở chính văn, bản trốn trong hang ở lời chú.49710

Đời sau nhớ lại

Người đời sau nhớ ba năm ấy bằng đền hơn bằng sổ sách. Toàn thư chép người địa phương thương mến Trưng Nữ Vương, lập đền thờ phụng. Thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ ghi rằng ở đền Hai Bà đồ thờ đều sơn đen, người mặc áo đỏ đến lễ phải cởi ra, vì tục truyền Trưng Vương mất vì binh đao nên kiêng màu đỏ, giống máu. Ngày nay, theo trang của các cơ quan văn hoá nhà nước, đền Hạ Lôi mở hội mồng 6 tháng Giêng, ghi là ngày Hai Bà mở tiệc khao quân; đền Hát Môn mở hội mồng 6 tháng Ba; cụm di tích Đồng Nhân mở hội mồng 6 tháng Hai, ghi là ngày Hai Bà hoá.1221131415

Được nhắc trong

  1. Tập 4Hai Bà Trưng khởi nghĩa, năm 4011 phút
  2. Tập 5Ba năm Trưng Vương6 phút
  3. Tập 6Mã Viện: Lãng Bạc và Cấm Khê10 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ, Kỷ Trưng Nữ Vương, chính văn và lời chua

    Về đoạn văn

  2. Hậu Hán thư

    quyển 86, Nam Man Tây Nam Di liệt truyện, chính văn của Phạm Diệp

    Về đoạn văn

  3. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ, Kỷ Trưng Nữ Vương, tờ 2a, chính văn

    Về đoạn văn

  4. Hậu Hán thư

    quyển 24, Mã Viện liệt truyện, chính văn

    Về đoạn văn

  5. Thuỷ kinh chú

    quyển 37 — đoạn dẫn lại sách Giao Châu ngoại vực ký đã mất

    Về đoạn văn

  6. Hậu Hán thư

    quyển 86, Nam Man Tây Nam Di liệt truyện, chính văn

    Về đoạn văn

  7. Hậu Hán thư

    quyển 24, Mã Viện liệt truyện, lời chú của Lý Hiền đời Đường dẫn sách Việt chí

    Về đoạn văn

  8. Việt sử lược

    quyển thượng, mục Lịch đại thủ nhậm, dưới tên Mã Viện

    Về đoạn văn

  9. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ, Kỷ Trưng Nữ Vương, tờ 2b đến 3b, chính văn và lời chua

    Về đoạn văn

  10. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 2, năm Quý Mão, chính văn và lời chua dẫn Nam Việt chí

    Về đoạn văn

  11. Việt Nam sử lược

    phần Trưng Vương, tờ 51 đến 52 bản chụp

    Về đoạn văn

  12. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ, Kỷ thuộc Đông Hán, chính văn và lời chua về đền thờ

    Về đoạn văn

  13. Cục Di sản văn hoá — Di tích lịch sử đền Hát Môn

    hồ sơ xếp hạng di tích, phần dựa theo thần tích của làng, nguồn thứ cấp

    Về đoạn văn

  14. Việt sử tiêu án

    phần Trưng Vương, đọc qua bản dịch năm 1960

    Về đoạn văn

  15. Việt Nam sử lược

    đoạn về Trưng Vương, tờ 51–52 bản djvu

    Về đoạn văn

  16. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Quyển đầu, Phàm lệ, điều khoản về họ Trưng

    Về đoạn văn

  17. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 2, chính văn, lời chua và lời phê của vua

    Về đoạn văn

  18. Việt sử tiêu án

    phần Trưng Vương, bản dịch 1960

    Về đoạn văn