Tập 3Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba
Sĩ Nhiếp giữ Giao Châu giữa loạn Tam Quốc
Tam quốc chí chép Sĩ Nhiếp là một viên thái thú thần phục nhà Ngô, năm nào cũng cống ngọc trai, đồi mồi. Toàn thư lập cho ông một kỷ riêng như một triều vua, lời bàn trong đó coi ông là người mở nền văn hiến; Cương mục lại xoá kỷ ấy đi. Còn con trai ông thì chết theo hai bản kể khác nhau, nằm trong cùng một bộ sử.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tập trước đã đi tới năm 248. Tập này lùi lại khoảng sáu mươi năm, về một người giữ đất Giao Châu hơn bốn mươi năm giữa loạn Tam Quốc.
Người ấy là Sĩ Nhiếp, và ông có một điều lạ: cùng một con người, hai nền sử viết ra hai nhân vật khác nhau. Trong Tam quốc chí, ông là một viên thái thú, truyện nằm trong phần Ngô thư, gửi con làm con tin và năm nào cũng mang cống vật tới.1 Trong Đại Việt sử ký toàn thư, ông là Sĩ Vương, có một kỷ riêng đặt ngang hàng các triều vua.2
Một nhà sáu đời ở phương Nam
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Trần Thọ, người soạn Tam quốc chí ở thế kỷ ba, mở truyện bằng gốc gác. Sĩ Nhiếp tự là Uy Ngạn, người Quảng Tín, quận Thương Ngô. Tổ tiên vốn người Vấn Dương nước Lỗ, gặp loạn Vương Mãng thì tránh xuống Giao Châu. Qua sáu đời thì tới cha ông là Sĩ Tứ, thời Hán Hoàn Đế làm thái thú Nhật Nam.1
Thời trẻ ông lên kinh sư du học, theo thầy Lưu Tử Kỳ, học sách Tả thị Xuân thu. Được cử hiếu liêm, làm thượng thư lang, vì việc công mà mất chức. Hết tang cha, ông được cử mậu tài, làm lệnh huyện Vu, rồi đổi làm thái thú Giao Chỉ.1
Tam quốc chí không ghi năm ông nhận chức ấy. Mốc năm 187 là của Toàn thư, chép năm thứ nhất của Sĩ Vương là năm Đinh Mão, niên hiệu Trung Bình thứ tư nhà Hán.2
Bốn anh em, bốn quận
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Thứ sử Giao Châu là Chu Phù bị giặc giết, châu quận rối loạn. Sĩ Nhiếp bèn dâng biểu cho em là Sĩ Nhất lĩnh thái thú Hợp Phố, Sĩ Vĩ lĩnh thái thú Cửu Chân, Sĩ Vũ lĩnh thái thú Nam Hải.1
Một nhà giữ bốn quận. Trần Thọ tả cái uy ấy bằng một đoạn hay được trích. Dịch sát:
Anh em Nhiếp đều làm trưởng các quận, làm hùng trưởng một châu, ở lệch ngoài muôn dặm, uy tôn không ai trên. Ra vào đánh chuông khánh, kèn sáo trống thổi, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe đốt hương thường có vài chục.1
Đoạn ấy kết bằng một câu nặng ký: làm khiếp phục trăm Man, Úy Đà cũng không hơn được.1 Úy Đà là Triệu Đà. Hãy nhớ câu này, vì ở thế kỷ mười chín có một ông vua sẽ chê nó là quá lời.
Cái làm nên tiếng tăm của ông lại là sự yên ổn. Truyện chép ông khoan hậu, khiêm nhường với kẻ sĩ; sĩ nhân Trung Quốc đến nương nhờ tránh nạn kể hàng trăm; ông say mê Xuân thu, tự làm chú giải. Rồi truyện dẫn thư của Viên Huy gửi thượng thư lệnh Tuân Úc. Dịch sát một câu:
Sĩ phủ quân ở Giao Chỉ ở giữa đại loạn mà giữ vẹn một quận, hơn hai mươi năm bờ cõi vô sự, dân không mất nghề.1
Từ nhà Hán sang nhà Ngô
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Nhà Hán vẫn phong chức cho ông: Tuy Nam trung lang tướng, đốc suất bảy quận, vẫn lĩnh thái thú Giao Chỉ; rồi An Viễn tướng quân, tước Long Độ đình hầu.1
Năm Kiến An thứ mười lăm, tức năm 210, Tôn Quyền sai Bộ Chất sang làm thứ sử Giao Châu. Tam quốc chí dùng một cụm rất gọn cho phản ứng của Sĩ Nhiếp: ông dẫn anh em vâng theo tiết độ.1
Không có trận đánh nào. Nhà Ngô cho ông làm Tả tướng quân. Cuối niên hiệu Kiến An, ông gửi con là Sĩ Hâm sang làm con tin; sau ông lên Vệ tướng quân, tước Long Biên hầu.1
Và đây là phần sử Trung Hoa chép kỹ nhất: đồ cống. Mỗi lần sai sứ tới, ông dâng hương, vải cát mịn, mỗi lần hàng nghìn; ngọc trai, sò lớn, lưu ly, phỉ thuý, đồi mồi, của quý từ tê và voi, cùng quả lạ như chuối, long nhãn — không năm nào không tới. Người em Sĩ Nhất có lần cống ngựa mấy trăm con.1
Bản dịch sách khảo sử của Ngô Thì Sĩ có một lời bàn tính giùm cái giá ấy: tiếng là đốc suất bảy quận, nhưng thuế má thực chỉ trông vào Giao Châu, bốn mươi năm cung ứng như thế thì sức một châu sao chịu nổi. Bản dịch không cho biết lời bàn là của ai.3
Tam quốc chí chép ông ở quận hơn bốn mươi năm, mất năm Hoàng Vũ thứ năm, tức năm 226, thọ chín mươi tuổi.1
Người chết ba ngày sống lại
Truyền thuyết kể
Chuyện truyền miệng, về sau được chép vào sách — không phải sự kiện đã kiểm chứng.
Khoảng hai trăm năm sau khi ông mất, Bùi Tùng Chi làm chú cho bộ sách, và chép vào chân truyện Sĩ Nhiếp một chuyện lấy từ Thần tiên truyện của Cát Hồng, một sách về các vị tiên.4
Chuyện kể Sĩ Nhiếp từng bệnh chết đã ba ngày. Tiên nhân Đổng Phụng cho uống một viên thuốc, ngậm nước cho, nâng cằm mà lắc. Chừng một bữa ăn thì ông mở mắt, cử động tay; nửa ngày ngồi dậy được, bốn ngày nói được, rồi khỏi hẳn. Lời chú ghi Đổng Phụng tự là Quân Dị.4
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Đây là lời chú, và người chú đã ghi rõ nguồn là một sách tiên. Toàn thư thì đưa chuyện này lên chính văn, đặt vào năm 226, chính năm Sĩ Vương mất, và đổi hai chi tiết: sách làm nguồn thành Liệt tiên truyện, tên tự Đổng Phụng thành Xương Dị.5
Con trai chống lệnh: hai bản kể trong cùng một bộ sử
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Sĩ Nhiếp mất, và cơ nghiệp sụp ngay ở đời con.
Theo truyện Sĩ Nhiếp, Tôn Quyền chia châu làm hai: phía bắc là Quảng Châu giao cho Lữ Đại, phía nam là Giao Châu giao cho Đới Lương, lại sai Trần Thì sang thay Sĩ Nhiếp làm thái thú Giao Chỉ. Con ông là Sĩ Huy tự xưng thái thú Giao Chỉ, phát quân của dòng họ ra chống. Một viên lại do chính Sĩ Nhiếp cất nhắc là Hoàn Lân dập đầu can, Huy sai đánh roi đến chết.1
Lữ Đại dùng một người họ Sĩ. Sĩ Khuông, con Sĩ Nhất, là bạn cũ của Đại, được sai sang khuyên Huy chịu tội, rằng tuy mất chức nhưng bảo đảm không phải lo gì khác. Anh em Huy sáu người cởi trần ra đón; Đại bảo mặc áo lại. Sáng hôm sau, Đại giăng màn trướng, mời họ lần lượt vào, rồi đứng dậy cầm cờ tiết đọc chiếu kể tội. Tả hữu trói giật họ ra ngoài, đều bị giết, đầu gửi về Vũ Xương.1
Bản thứ hai nằm trong cùng bộ sách, ở truyện Lữ Đại, và kể khác hai chỗ. Tôn Quyền không bỏ trắng Huy mà cho làm An Viễn tướng quân, lĩnh thái thú Cửu Chân, tức là dời sang quận khác. Và không có Sĩ Khuông, không có lời hứa: Huy nghe Đại tới thì sợ hãi, không biết tính sao, dẫn anh em sáu người cởi trần ra đón, và Đại chém hết.6
Truyện Lữ Đại còn chép lý do đánh gấp: để Huy kịp giữ thành thì bảy quận trăm Man sẽ hưởng ứng như mây họp. Sau đó các tướng của Huy là Cam Lễ, Hoàn Trị đem lại dân ra đánh, bị Đại phá tan.6
Cùng một người viết, hai quyển, hai cách chết. Các ghi chép đã đọc không cho cơ sở để nói bản nào đúng.
Những người còn lại, theo truyện Sĩ Nhiếp: Sĩ Nhất, Sĩ Vĩ, Sĩ Khuông và người con tin Sĩ Hâm được tha nhưng bị giáng làm thứ dân; vài năm sau Nhất và Vĩ phạm pháp bị giết; Hâm bệnh chết, không con.1 Về Sĩ Khuông, Tam quốc chí chỉ chép việc bị giáng làm thứ dân; Toàn thư thêm một câu mà Tam quốc chí không có: chỉ có Khuông chết bệnh trước.7
Ai có lỗi
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Lời chú của Bùi Tùng Chi dẫn Tôn Thịnh, người thế kỷ bốn, chê thẳng Lữ Đại: anh em Huy dốc lòng phó mệnh, Đại nhân đó diệt đi để cầu công, người quân tử vì thế biết Tôn Quyền không có mưu xa.8 Ngô Sĩ Liên trong Toàn thư chia lỗi làm hai: chê Huy giết người can, rồi chê Lữ Đại dụ hàng mà giết, vì chữ tín là của báu của nước.7
Còn Trần Thọ, trong lời bình cuối quyển, viết Sĩ Nhiếp giữ đất Nam Việt thong dong trọn đời, đến đời con không cẩn thận mà tự chuốc tai hoạ. Rồi một câu không mấy dễ nghe:
Ấy là kẻ tài tầm thường ham phú quý mà cậy vào hiểm trở, nên mới đến thế.9
Toàn thư: một kỷ cho Sĩ Vương
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Toàn thư dành cho ông một kỷ riêng, Kỷ Sĩ Vương, dài sáu tờ. Câu mở kỷ chép ông ở ngôi bốn mươi năm, lòng người yêu mến, giữ vẹn đất Việt để đương đầu với sức mạnh Tam Quốc, đã sáng lại trí, đáng gọi là vua hiền.2
Vì sao gọi là vương? Toàn thư tự trả lời: ông khoan hậu, khiêm nhường với kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương.2 Tức là danh hiệu đến từ cách người ta gọi, không phải từ việc ông tự xưng. Khi ông mất, sách dùng chữ hoăng, chữ dành cho cái chết của bậc vương hầu.
Kỷ này chép ông đóng đô ở Luy Lâu, lời chua thêm rằng đó tức là Long Biên, và ghi nhà Trần về sau truy phong ông là Thiện Cảm Gia Ứng Linh Vũ Đại Vương.2
Lê Văn Hưu, sử gia thế kỷ mười ba, khen ông trí, và cái trí ấy nằm đúng ở chỗ Tam quốc chí chép là thần phục. Dịch sát:
Tuy tài dũng không bằng Triệu Vũ Đế, nhưng biết nhún mình thờ nước lớn để giữ vẹn cõi đất, có thể gọi là trí vậy.10
Ngô Sĩ Liên, thế kỷ mười lăm, đi xa hơn. Dịch sát:
Nước ta thông Thi Thư, học Lễ Nhạc, thành một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương.11
Còn vụ Sĩ Huy, ông gạt sang một bên bằng một câu: con không ra gì là tội của con thôi.11
Cùng một việc cúi đầu trước nước lớn, sử Trung Hoa chép như sự thần phục của một viên thái thú, còn lời bàn trong Toàn thư gọi là trí.
Gọi là vương, xếp vào hàng thái thú
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Ngay trong sử Việt cũng không chỉ có một cách xếp. Việt sử lược, soạn khoảng thế kỷ mười bốn, không lập kỷ cho ông, mà đặt ông trong mục các quan thủ nhậm qua các đời, cùng hàng với những người như Mã Viện. Nhưng trong chính đoạn ấy, sách vẫn gọi ông là vương và chép cái chết bằng chữ hoăng.12
Đến thế kỷ mười chín, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn gỡ nghịch lý ấy theo hướng ngược với Toàn thư. Phàm lệ có một điều khoản gộp chung ông với họ Trưng:
Họ Trưng dấy binh báo thù, chưa thành nước. Sĩ Nhiếp phụng mệnh đến trấn thủ, chưa từng xưng vương. So với An Dương Vương, Triệu Việt Vương thì có khác. Sử cũ đều chép riêng thành một kỷ; nay xoá đi, chỉ nhân việc mà chép thẳng để giữ sự thực, vẫn phụ vào niên kỷ thuộc Hán.13
Chính văn nhắc lại: Sĩ Nhiếp chỉ là thái thú nhà Hán, chưa từng xưng vương, tách làm một kỷ là không hợp nghĩa lệ.14 Lời phê của vua Tự Đức còn nặng hơn: ông chỉ là một viên thái thú, theo thời mềm mỏng, chỉ cầu tiện cho mình, không có tài lớn mưu xa, không đáng khen; sử cũ bảo Úy Đà cũng không hơn, chẳng là quá lắm sao.15 Câu so với Úy Đà ấy, như đã thấy, vốn có trong chính văn Tam quốc chí.1
Nhưng Cương mục vẫn giữ câu văn hiến của Ngô Sĩ Liên, chỉ đổi Sĩ Vương thành Sĩ Nhiếp.16 Phàm lệ và lời xét không bác một việc làm nào của ông. Cái chúng bác là chữ vương.
Ngôi mộ và miếu Sĩ Vương Tiên
Truyền thuyết kể
Chuyện truyền miệng, về sau được chép vào sách — không phải sự kiện đã kiểm chứng.
Ngay sau lời bàn về văn hiến, Ngô Sĩ Liên chép thêm một chuyện và tự ghi rõ đó là đời truyền. Sau khi Sĩ Vương được chôn, đến cuối đời Tấn, hơn một trăm sáu mươi năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mả lên, thấy thân thể mặt mũi như người sống, sợ lắm lại lấp đi. Người bản xứ cho là thần, lập miếu thờ, gọi là Sĩ Vương Tiên, đền ở thành cũ Long Biên.17
Cương mục chép lại chuyện này nhưng con số thành hơn sáu trăm năm.16 Một trăm sáu mươi năm sau năm 226 thì còn rơi vào cuối đời Tấn; sáu trăm năm thì đã vượt xa, khó khớp với chữ "cuối đời Tấn" ngay trong câu.
"Học tổ": một danh hiệu và một lời phản bác
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Câu văn hiến của Ngô Sĩ Liên sống rất dai; lời bàn trong bản dịch sách của Ngô Thì Sĩ, dù vừa tính cái giá cống nạp, vẫn kết như thế.3 Trong các sách đã đọc cho tập này, người phản bác nó là Trần Trọng Kim. Việt Nam sử lược chép Sĩ Nhiếp từ năm 187 tới năm 226, nói dân gọi tôn lên là Sĩ vương, rồi bảo ý cho rằng văn học nước ta khởi từ Sĩ Nhiếp "có lẽ không phải": đến đời Sĩ Nhiếp đã được hơn ba trăm năm, người Giao Chỉ đã có người học hành thi đỗ hiếu liêm, mậu tài. Đoạn ấy khép lại bằng ý Sĩ Nhiếp về sau mới được "cái tiếng làm học tổ ở nước ta".18 Chữ "học tổ", trong các sách đã đọc, lần đầu xuất hiện chính trong một câu phản bác.
Cụm Nam Giao học tổ hay được kể gắn với tên ông, nhưng chưa truy được nó trong bộ sử nào: Toàn thư, Việt sử lược, Cương mục đều không có. Thứ Toàn thư thật sự chép là câu văn hiến của Ngô Sĩ Liên và chữ trí của Lê Văn Hưu.21216
Hai bức chân dung, một khuôn mặt: một viên thái thú khéo cúi đầu đúng lúc và cống đúng hẹn, và một ông vua hiền mà người trong nước tự gọi là vương.
Tập sau: Giao Châu thời Lưỡng Tấn – Nam Bắc triều.
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Tam quốc chí
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Việt sử tiêu án
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Tam quốc chí
Dùng cho: Truyền thuyết kểVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tam quốc chí
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tam quốc chí
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tam quốc chí
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Truyền thuyết kểDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Truyền thuyết kểVề đoạn văn
Việt Nam sử lược
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn