Tập 4Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba
Giao Châu thời Lưỡng Tấn – Nam Bắc triều
Hai trăm năm Giao Châu qua bốn biến cố: họ Đào có năm người làm thứ sử trong bốn đời, họ Đỗ đốt thuyền Lư Tuần ở bến Long Biên, quân Lâm Ấp tới rồi quân phương Bắc đánh trả, và một người Giao Chỉ họ Lý chiếm châu, rồi em họ ông được triều đình phong làm thứ sử. Có chuyện sử Việt chép lại gần nguyên văn, có chuyện chỉ còn trong sách Trung Hoa.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tập trước kể Sĩ Nhiếp giữ Giao Châu giữa loạn Tam Quốc. Khi tập này mở ra, thời của ông đã qua, và đất Giao Châu là chỗ hai nhà Ngô và Tấn giành đi giật lại.1
Đọc sử hai trăm năm tiếp theo, ta thấy một điều lạ: ở Giao Châu, chức thứ sử cứ lặng lẽ ở lại trong vài dòng họ. Một nhà có năm người làm thứ sử trong bốn đời. Một nhà khác, cha trước con sau, cùng giữ yên châu. Và đến cuối, một người Giao Chỉ tự chiếm lấy châu, rồi triều đình phong cho người em họ của ông đúng cái chức ấy.2
Tập này dừng ở bốn biến cố, theo thứ tự thời gian, và ở mỗi biến cố nói rõ sử Việt có chép lại không, hay chuyện chỉ còn trong sách Trung Hoa.
Ba nghìn con công, hay ba mươi
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tấn thư, bộ sử nhà Tấn, kể rằng Giao Chỉ rơi khỏi tay nhà Ngô vì thái thú Tôn Tư tham lam tàn bạo, và vì một viên sát chiến tên Đặng Tuân.
Gặp lúc sát chiến Đặng Tuân tới, tự ý bắt nộp ba nghìn con công, đưa về Mạt Lăng.1
Nhưng mở Đại Việt sử ký toàn thư thì con số khác hẳn. Toàn thư chép ba mươi con, đưa về Kiến Nghiệp. Việt sử lược cũng chép ba mươi.34
Ba nghìn hay ba mươi, chỗ khác nhau chỉ là chữ nghìn với chữ mười, và các nguồn đã đọc không cho biết bên nào chép nhầm.
Đào Hoàng: gấm, muối và sắt
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Nhà Ngô tiến quân để lấy lại Giao Chỉ. Người cầm quân trong truyện này là Đào Hoàng. Toàn thư đặt cuộc tiến quân vào năm 269 và trận ở Phân Thuỷ vào năm 271; Tấn thư thì không ghi năm cho từng trận.3
Tấn thư kể ông dùng mưu thắng Đổng Nguyên, rồi đem mấy nghìn tấm gấm vóc lấy được trên thuyền báu trước đó tặng cho thủ lĩnh giặc ở Phù Nghiêm là Lương Kỳ; Kỳ đem hơn một vạn người tới giúp Hoàng.1 Toàn thư chép lại chuyện này, nhưng đổi tên người thủ lĩnh thành Lương Tề.3
Tấn thư còn giữ một câu của chính ông, nói về bờ bên kia.
Bờ nam trông vào muối sắt của ta; cắt đi, đừng bán cho họ.1
Theo Tấn thư, đất Vũ Bình, Cửu Đức, Tân Xương hiểm trở, dân man ở đó mạnh dữ, qua nhiều đời không chịu thần phục; Đào Hoàng đánh dẹp, mở đặt ba quận, cùng hơn ba mươi huyện thuộc Cửu Chân.1
Ba mươi năm, bốn đời, năm người
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Năm 280 nhà Tấn diệt nhà Ngô. Đào Hoàng ở lại, và dâng biểu lên triều đình mới xin đừng giảm quân ở Giao Châu. Trong tờ biểu có hai con số: ngoài biên cách Lâm Ấp chỉ bảy trăm dặm, và quân thần thống lĩnh vốn hơn bảy nghìn người.5
Toàn thư chép lại tờ biểu ấy, nhưng con số thành tám nghìn.3
Tấn thư viết về ông: ở phương Nam ba mươi năm, uy và ân nổi tiếng nơi phong tục khác lạ; đến khi mất, cả châu gào khóc như mất cha mẹ hiền.1 Toàn thư chép gần như y hệt.3
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tấn thư chép tiếp: con ông là Đào Uy, đang làm thái thú Thương Ngô, được đón về lĩnh chức thứ sử, ở chức rất được lòng dân, ba năm thì mất.1
Toàn thư chép câu ấy gần như từng chữ, chỉ thêm một chữ mười: Đào Uy tại chức ba mươi năm mới mất.3
Cuối truyện là một câu tổng kết cả dòng họ: từ Cơ đến Tuy, bốn đời, người làm Giao Châu có năm người.1
Ở một châu cách kinh đô xa như thế, cái chức do triều đình trao đã bắt đầu giống một thứ để lại cho con cháu.
Người Kinh Triệu, hay người nước ta
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Biến cố thứ hai thuộc về họ Đỗ. Tống thư, bộ sử nhà Lưu Tống, mở truyện Đỗ Tuệ Độ bằng lý lịch ba đời.
Đỗ Tuệ Độ, người Chu Diên, Giao Chỉ. Gốc thuộc Kinh Triệu. Cụ là Nguyên, làm thái thú Ninh Phố, bèn ở lại Giao Chỉ.6
Vậy trong sử Trung Hoa, đây là một nhà gốc phương Bắc đã định cư ở Giao Chỉ từ đời cụ. Toàn thư, khi chép về cha ông là Đỗ Viện, lại viết một câu có chủ ý: Viện là người Chu Diên nước ta.7 Chữ "nước ta" là của sử thần Việt, không phải của Tống thư.
Công của Đỗ Viện là dẹp một cuộc làm phản. Toàn thư chép thái thú Cửu Chân là Lý Tốn làm phản năm 380, sang năm sau bị chém. Tống thư chỉ viết gọn: Viện thu quân chém Tốn, cõi châu được yên.76 Việt sử lược chép người này là Nguyễn Tốn, và ở cuối tập ta sẽ thấy sách ấy viết họ Lý thành họ Nguyễn thêm hai lần nữa.4
Trận lửa ở bến nam Long Biên
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Năm Nghĩa Hy thứ bảy, tức năm 411, Lư Tuần thua chạy khỏi Quảng Châu. Tấn thư chép: Tuần bèn đánh úp Hợp Phố, hạ được, tiến đánh Giao Châu. Tới Long Biên, thứ sử Đỗ Tuệ Độ dùng mưu đánh bại.8
Tống thư kể dài hơn. Tuệ Độ dẫn sáu nghìn người cả văn lẫn võ ra chặn Lư Tuần ở Thạch Kỳ. Bên kia có cả hai con của Lý Tốn là Lý Dịch và Lý Thoát đã chạy về Thạch Kỳ, kết bè với người Lý, người Lạo, mỗi người có bộ khúc riêng, và theo Lư Tuần.6
Rồi đến trận ở Long Biên. Tống thư chép: tháng sáu, ngày Canh Tý, Tuần sáng sớm tới bến nam, ra lệnh cho ba quân vào thành rồi mới ăn.6
Bữa ăn ấy không đến. Tuệ Độ đem hết của riêng trong họ tộc ra để làm tiền thưởng. Rồi phóng tên lửa, đuốc đuôi trĩ; bộ binh kẹp hai bờ mà bắn; thuyền của Tuần cháy cả, một lúc tan vỡ; Tuần trúng tên, nhảy xuống nước chết.6
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tống thư xếp truyện Đỗ Tuệ Độ vào thiên Lương lại, tức thiên chép các quan lại tốt, và tả cách ông cai trị.
Cấm dứt các đền thờ dâm tự, sửa sang trường học; năm mất mùa dân đói thì lấy bổng lộc riêng ra phát chẩn. Và sử khen: đến mức cửa thành đêm không đóng, ngoài đường không ai nhặt của rơi.6
Theo Tống thư, con của Tuệ Độ là Đỗ Hoằng Văn cũng có mặt trong cùng truyện ấy.6 Họ Đỗ, cũng như họ Đào trước đó, đã thành một dòng họ của Giao Châu.
Nghìn dặm không khói bếp
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Biến cố thứ ba là những lần nước Lâm Ấp, láng giềng mà Đào Hoàng nói chỉ cách bảy trăm dặm, đánh lên đất Nhật Nam và Cửu Chân.
Cảnh nặng nề nhất nằm trong Thuỷ kinh chú. Lịch Đạo Nguyên ghi năm Kiến Nguyên thứ hai đời Tấn, tức năm 344, Phạm Văn của Lâm Ấp đánh Nhật Nam, Cửu Đức, Cửu Chân, trăm họ chạy tán loạn, nghìn dặm không khói bếp, rồi mới về Lâm Ấp.9
Cảnh ấy chỉ có trong sử Trung Hoa. Toàn thư không có tên Phạm Văn; những lần Lâm Ấp cướp phá mà Toàn thư ghi là các năm 399, 413, 415, 420 và 431.10
Lần năm 413 có mặt Đỗ Tuệ Độ, và hai bên chép kết cục khác nhau. Thuỷ kinh chú dẫn sách Lâm Ấp ký: Đỗ Tuệ Độ tới cửa sông Cửu Chân, đánh với vua Lâm Ấp Phạm Hồ Đạt, bắt chém hai con của Hồ Đạt.11 Toàn thư thì chép Hồ Đạt cướp Cửu Chân, và Tuệ Độ đánh chém được ông.10 Một bên chém hai người con. Một bên chém chính ông vua.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Có một lần Lâm Ấp không đến bằng quân, mà bằng thư. Tống thư chép: năm Nguyên Gia thứ mười, tức năm 433, vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại sai sứ dâng biểu, hiến sản vật địa phương, xin được lĩnh Giao Châu; chiếu đáp rằng đường xa, không cho.12 Toàn thư đặt việc ấy sớm hơn một năm.10
Hai chữ "đường xa" trong lời từ chối ấy cũng là điều làm nên cả tập này.
Tám trăm năm sau, Lê Văn Hưu đọc tới đây và bàn: Lâm Ấp nhân lúc nước Việt ta không có quân, bèn cướp Nhật Nam, Cửu Chân mà xin lĩnh lấy. Rồi ông nhảy thẳng tới đời Lý, lấy việc Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành làm việc rửa nhục cho lần ấy.13 Một sử thần thế kỷ mười ba đọc chuyện thế kỷ năm như chuyện của nước mình.
Khu Túc
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Mười mấy năm sau, quân phương Bắc đi đánh Lâm Ấp. Tống thư chép: năm thứ hai mươi ba, sai Long Tương tướng quân, thứ sử Giao Châu Đàn Hoà Chi đi đánh.12
Năm ấy là năm nào thì các sách không khớp nhau. Tống thư ở thiên Lâm Ấp, Thuỷ kinh chú và Việt sử lược đều ghi năm Nguyên Gia thứ hai mươi ba, tức năm 446. Truyện Tông Xác trong Tống thư và Nam Tề thư ghi sớm hơn một năm. Còn Toàn thư ghi năm Nguyên Gia thứ mười ba, tức năm 436, lệch mười năm so với tất cả các sách còn lại, kể cả Việt sử lược.12149410
Quân ấy hạ thành Khu Túc. Tống thư chép kết quả bằng giọng sổ sách: tháng năm hạ được, chém đầu đại soái Phù Long, thu vàng bạc đồ vật không đếm xuể.12
Thuỷ kinh chú tả cảnh mà Tống thư lướt qua.
Chém đầu vua Khu Túc là Phạm Phù Long; từ mười lăm tuổi trở lên, chôn chém không tha; lầu gác mưa máu, xác chất thành gò.9
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Sử Việt có chép cuộc viễn chinh này. Toàn thư chép Đàn Hoà Chi đi đánh, chép cả chuyện Tông Xác với con sư tử giả.10 Nhưng cảnh ở Khu Túc chỉ có trong sử Trung Hoa, cũng như cảnh nghìn dặm không khói bếp năm 344. Hai cảnh tàn khốc nhất của biến cố này, một ở phía bên này, một ở phía bên kia, đều đến với ta từ sách phương Bắc.9
Một người Giao Chỉ giữ châu
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Biến cố cuối cùng là chuyện của họ Lý, và nguồn gốc của nó là Nam Tề thư, bộ sử do Tiêu Tử Hiển soạn đời Lương. Trước khi kể, người soạn nhận xét về cả châu.
Giao Châu trơ trọi cách tuyệt nơi đảo biển, khống chế các nước bên ngoài, cho nên cậy hiểm mà nhiều lần không thần phục.2
Rồi sách kể.
Đầu niên hiệu Thái Thuỷ nhà Tống, thứ sử Trương Mục mất; người Giao Chỉ là Lý Trường Nhân giết bộ khúc từ phương Bắc tới của Mục, chiếm Giao Châu làm phản; mấy năm thì bệnh chết. Em họ là Thúc Hiến nối việc, hiệu lệnh chưa thi hành được, sai sứ xin thứ sử.2
Chính sử phương Bắc tự ghi rõ ranh giới: Lý Trường Nhân là người Giao Chỉ, những người ông giết là bộ khúc từ phương Bắc tới.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Toàn thư chép lại chuyện này, nhưng khác ba chỗ. Toàn thư đặt nó vào năm 468. Toàn thư gọi viên thứ sử là Lưu Mục, không phải Trương Mục. Và Toàn thư thêm mấy chữ: Lý Trường Nhân chiếm châu làm phản, tự xưng thứ sử.15
Chữ "tự xưng thứ sử" không có trong Nam Tề thư; ở chỗ đó sách chỉ viết Trường Nhân chiếm châu làm phản, còn người em họ sai sứ xin thứ sử.2 Việt sử lược cũng chép hai người, nhưng viết họ thành Nguyễn: Nguyễn Trường Nhân, Nguyễn Thúc Hiến.4
Triều đình phong lại
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Nam Tề thư chép Lý Thúc Hiến được mệnh của triều đình, lòng người theo phục, bèn phát binh giữ chỗ hiểm, không cho viên thứ sử mới được cử sang vào châu.2
Rồi nhà Tề lên thay nhà Tống. Với người đã đóng quân chặn cửa ấy, triều đình mới xử như sau. Năm Kiến Nguyên thứ nhất đời Thái Tổ, tức năm 479, vẫn cho Thúc Hiến làm thứ sử Giao Châu, để vỗ yên.2
Người giữ châu không bị dẹp. Chức của ông được công nhận ngược lại.
Nam Tề thư chép tiếp: Thúc Hiến nhận mệnh, rồi cắt đứt với các nước bên ngoài, cống hiến ít ỏi.2 Toàn thư cũng chép Thúc Hiến nhận mệnh xong thì cắt cống.15
Ông giữ châu thêm mấy năm nữa. Kết cục được Nam Tề thư chép bằng một câu: Thúc Hiến sợ bị đánh úp, theo đường tắt qua Tương Xuyên về triều.2 Năm ấy là năm Vĩnh Minh thứ ba, tức năm 485, theo lời hiệu khám của bản in hiện đại; bản cũ ghi năm đầu niên hiệu ấy.16
Hai trăm năm, ba dòng họ
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Xếp bốn biến cố cạnh nhau, ta thấy một đường đi. Đầu tiên là họ Đào: năm người làm thứ sử trong bốn đời, và theo Tấn thư, cả châu khóc khi Đào Hoàng mất.1 Rồi đến họ Đỗ: gốc Kinh Triệu, ở Chu Diên từ đời cụ, được Tống thư gọi là người Giao Chỉ và được Toàn thư gọi là người nước ta.67 Cuối cùng là họ Lý: một người Giao Chỉ giết quân phương Bắc, chiếm châu, và người em họ được triều đình phong đúng cái chức mà ông đã tự giành lấy.2
Còn về nguồn, sử Việt chép lại chuyện họ Đào, họ Đỗ và họ Lý, bám sát sử Trung Hoa nhưng lệch ở nhiều con số. Riêng biến cố Lâm Ấp thì sử Việt chỉ chép một phần; hai cảnh khốc liệt nhất vẫn nằm trong sách Trung Hoa.
Tập sau: Chính sách hà khắc của Tiêu Tư.
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Tấn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Nam Tề thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tấn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tống thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tấn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Thuỷ kinh chú
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Thuỷ kinh chú
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tống thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tống thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Nam Tề thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn