Địa danh

Giao Chỉ

Quận nhà Hán đặt trên đất cũ Nam Việt, theo Hán thư là năm 111 trước Công nguyên; ở bảng hộ khẩu năm 2, riêng số khẩu của nó nhiều hơn sáu quận đất Việt còn lại cộng lại. Năm 40, một người đàn bà ở Giao Chỉ là Trưng Trắc tự lập làm vua.

Hồ sơ

Vị trí
Một trong ba quận xa nhất về phương nam của đất Việt; phần chí quận huyện của Tư Mã Bưu ghi cách kinh đô Lạc Dương 11.000 dặm về phía nam1
Loại hình
Quận nhà Hán gồm 10 huyện, trong đó có Mê Linh, Chu Diên, Long Biên, Luy Lâu. Bảng năm 2 ghi 92.440 hộ, 746.237 khẩu — riêng số khẩu nhiều hơn sáu quận đất Việt còn lại cộng lại (626.053 khẩu)2
Niên đại
Theo thiên chép chuyện diệt Nam Việt trong Hán thư, đặt năm 111 trước Công nguyên, cùng lúc với tám quận kia3

Về nơi này

Sử cũ chép

Sử ký khép chiến dịch diệt Nam Việt bằng bốn chữ: bèn làm chín quận, mà chính văn không kể tên quận nào. Danh sách nằm ở Hán thư: Đam Nhĩ, Chu Nhai, Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Trong bản Sử ký in ngày nay, người đọc vẫn thấy danh sách ấy ngay dưới chữ chín quận, nhưng đó là lời chú Tập giải của Bùi Nhân dẫn lời Từ Quảng, và chính Tư Mã Trinh đã chú thêm rằng Từ Quảng đều căn cứ vào Hán thư mà nói. Tức cái tên Giao Chỉ, hay được gán cho Sử ký, thật ra đến từ Hán thư, qua tay hai nhà chú.4567

Hán thư kê cho Giao Chỉ mười huyện, trong đó có Mê Linh, Chu Diên, Long Biên và Luy Lâu; một sách địa lý đã mất là Giao Châu ngoại vực ký, được Thuỷ kinh chú dẫn lại, ghi Luy Lâu vốn là trị sở của quận. Phần chí quận huyện của Tư Mã Bưu đời Tấn, ghép vào Hậu Hán thư, có cạnh tên quận một dòng chú ngắn: tức là nước của An Dương Vương. Dòng ấy là của Tư Mã Bưu hay của người chú sách đời Lương là Lưu Chiêu thì chưa phân định được; dù là ai, đó cũng là lời ghi từ thế kỷ thứ ba tới thế kỷ thứ sáu, không phải chữ của Hán thư. Nó cho biết người đời ấy coi quận Giao Chỉ là đất cũ của An Dương Vương.281

Với mỗi quận, Địa lý chí của Hán thư chép số hộ và số khẩu, mốc năm 2 sau Công nguyên, đời Bình Đế. Giao Chỉ có 92.440 hộ, 746.237 khẩu. Riêng số khẩu ấy nhiều hơn sáu quận còn lại của đất Việt cộng lại, vốn chỉ được 626.053 khẩu; Nam Hải, quận có Phiên Ngung, kinh đô cũ của Nam Việt, chỉ có 94.253 khẩu, chưa bằng một phần bảy Giao Chỉ. Khoảng năm 140, bảng thứ hai trong phần chí của Tư Mã Bưu ghi Giao Chỉ có mười hai thành rồi đi thẳng vào danh sách huyện; chỗ lẽ ra là số hộ số khẩu bỏ trống. Ai đưa ra một con số dân Giao Chỉ thời Đông Hán thì con số ấy không lấy từ bảng này.21

Đời sau nhớ lại

Sổ ấy đếm người thật, hay chỉ đếm người phải đóng thuế? Năm 1979, Stephen O'Harrow, dựa chủ yếu vào phân tích của Hans Bielenstein, ghi bình quân mỗi hộ trên toàn cõi Hán là 4,7 người, và cho rằng chính con số rất bình thường ấy là dấu hiệu ta đang cầm một cuộc kiểm kê thật, chứ không chỉ là sổ thuế. Chia khẩu cho hộ thì Giao Chỉ ra khoảng tám người một hộ; O'Harrow, theo Bielenstein, ghi con số của vùng cư dân Việt cổ mà ông khảo sát là gần tám, cao nhất đế quốc. O'Harrow đưa ra một giả thuyết: dân ở đây gần như hoàn toàn không phải người Hán, và có thể sống chung đông người trong một nhà hơn. Đó là lời giải thích của năm 1979, đọc Bielenstein qua lời O'Harrow, chưa phải điều sử liệu chép.9

Sử cũ chép

Hậu Hán thư tả đất Giao Chỉ bằng giọng của người cai trị: tuy đặt quận huyện, mà tiếng nói mỗi nơi một khác, phải dịch nhiều lần mới thông; sau dời khá nhiều tội nhân Trung Quốc tới ở lẫn vào giữa, mới dần biết tiếng nói, dần dà thấy được lễ hoá. Thái thú Giao Chỉ thời Bình Đế là Tích Quang; cuối đời Vương Mãng ông đóng cửa cõi mà chống giữ, đầu niên hiệu Kiến Vũ thì sai sứ cống hiến và được phong Diêm Thuỷ hầu. Người đang giữ đúng cái ghế ấy vào năm 40, năm cả vùng nổi dậy, là Tô Định; trong các quyển Hậu Hán thư chép về đất này, tên ông hiện trong chính văn đúng một lần, ở một câu mười chữ.1011

Được nhắc trong

  1. Tập 1Hán diệt Nam Việt, năm 111 TCN10 phút
  2. Tập 2Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam11 phút
  3. Tập 3Tích Quang, Nhâm Diên, Tô Định9 phút
  4. Tập 3Sĩ Nhiếp giữ Giao Châu giữa loạn Tam Quốc11 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Hậu Hán thư

    Quận quốc chí phần năm — phần chí của Tư Mã Bưu đời Tấn ghép vào bộ sách, gồm cả các dòng chú kèm tên quận

    Về đoạn văn

  2. Hán thư

    quyển 28, Địa lý chí, chính văn — phần đất Việt, bảng hộ khẩu các quận và lời tổng kết cuối thiên

    Về đoạn văn

  3. Hán thư

    quyển 95, Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên truyện, chính văn — câu lập chín quận

    Về đoạn văn

  4. Sử ký

    quyển 113 Nam Việt liệt truyện, chính văn

    Về đoạn văn

  5. Sử ký

    quyển 113 Nam Việt liệt truyện, lời chú Tập giải của Bùi Nhân dẫn Từ Quảng

    Về đoạn văn

  6. Sử ký

    quyển 113 Nam Việt liệt truyện, lời chú Sách ẩn của Tư Mã Trinh

    Về đoạn văn

  7. Hán thư

    quyển 95 Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên truyện, chính văn

    Về đoạn văn

  8. Thuỷ kinh chú

    quyển 37 — đoạn dẫn lại sách Giao Châu ngoại vực ký đã mất

    Về đoạn văn

  9. Hậu Hán thư

    quyển 86, Nam Man Tây Nam Di liệt truyện, chính văn

    Về đoạn văn

  10. Hậu Hán thư

    quyển 76, Tuần lại liệt truyện, truyện Nhâm Diên, chính văn

    Về đoạn văn