Tập 11Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba

Khởi nghĩa Mai Thúc Loan — Mai Hắc Đế

Gần như mọi điều ta biết về Mai Thúc Loan, kể cả cái hiệu Hắc Đế, đến từ sử Trung Hoa chép sau ông hơn hai trăm năm. Còn con số bốn mươi vạn quân thì chính sách chép đã ghi là số xưng, và sử thần triều Nguyễn đã ngờ cả nó lẫn ba mươi hai châu.

2 lớp · 13 nguồn · Giọng đọc AI

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tập trước dừng ở cuộc vây phủ năm 687. Ba mươi lăm năm sau, ở An Nam lại có người cầm quân chống nhà Đường, và người Việt ngày nay gọi ông bằng một cái tên rất kêu: Mai Hắc Đế.

Vậy cái hiệu Hắc Đế ấy được chép ở đâu?

Câu trả lời hơi trớ trêu. Gần như mọi điều ta biết về , từ tên ông, hiệu Hắc Đế, các nước liên kết, số quân, cho tới cái chết, đều đến từ sử Trung Hoa. Người chép là các sử quan gọi ông là giặc, và họ chép sau ông hơn hai trăm năm.1

Bản nào cũng cực ngắn, chỉ một đến ba câu. Không bản nào kể diễn biến trận đánh, ông cầm cự bao lâu, hay chết ở đâu. Cái dày của tập này nằm ở chỗ các bản vênh nhau: về tên, về tháng, và nhất là về con số.

Bản tin về triều: một câu

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Bản chép sớm nhất trong số đã mở là , soạn xong năm 945. Ở phần bản kỷ, năm Khai Nguyên thứ mười, tức năm 722, có đúng một câu:

Mùa thu, tháng Tám, ngày Bính Tuất, án sát sứ Lĩnh Nam là Bùi Trụ Tiên dâng lời rằng bọn tặc soái An Nam là Mai Thúc Loan đánh vây các châu huyện; triều đình sai phiêu kỵ tướng quân kiêm nội thị Dương Tư Húc đi đánh.1

Hết. Câu ấy là một bản tin: có người báo lên từ , triều đình cử người đi. Nó chỉ nói ông đánh vây châu huyện. Không có hiệu Hắc Đế, không có quân số, không có nước nào liên kết.

Người được cử đi, , mang chức nội thị, tức một hoạn quan. Truyện riêng của ông nằm trong thiên Hoạn quan truyện của cùng bộ sử. Và chính cái truyện ấy mới là nơi Mai Thúc Loan thành Hắc Đế.2

Hắc Đế: hai chữ "tự xưng"

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Truyện Dương Tư Húc trong Cựu Đường thư kể việc này dài hơn, và kể khác:

Đầu niên hiệu Khai Nguyên, thủ lĩnh An Nam là Mai Huyền Thành làm phản, tự xưng là Hắc Đế, cùng nước Lâm Ấp, nước Chân Lạp thông mưu, đánh hãm phủ An Nam.2

Tên ở đây không phải Thúc Loan mà là Huyền Thành. Cái hiệu Hắc Đế đi kèm hai chữ tự xưng: theo sử quan, chính ông đặt hiệu ấy cho mình. Và ông không đơn độc, mà thông mưu với và . Còn chuyện đánh hãm được phủ An Nam thì chỉ truyện này có; câu bản kỷ ở trên chỉ nói đánh vây châu huyện.

Rồi đến phía nhà Đường:

Tư Húc đến Lĩnh biểu, chiêu mộ binh mã là con em các thủ lĩnh, hơn mười vạn, theo đường cũ của Phục Ba mà tiến, đánh ra chỗ không ngờ.2

Đường cũ của Phục Ba, bản Tân Đường thư sau này viết thẳng là đường cũ của , người mà các tập thời Bắc thuộc lần thứ nhất đã gặp.3

Kết cục được kể trong một hơi:

Huyền Thành nghe quân đến gấp, hoảng hốt không biết tính sao, rốt cuộc bị quan quân bắt, chém ngay trước trận, giết hết bè đảng, chất xác làm kinh quan rồi về.2

Kinh quan là đống xác người chất thành gò để phô chiến công. Chữ ấy còn lặp lại ở Tân Đường thư, Thông giám và An Nam chí lược.

Một trăm mười lăm năm sau, mọi thứ lớn lên

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

xong năm 1060, sau sự kiện hơn ba trăm ba mươi năm. Truyện Dương Tư Húc trong bộ này viết:

Đầu Khai Nguyên, cừ soái người man ở An Nam là Mai Thúc Loan làm phản, hiệu là Hắc Đế, dấy quân của ba mươi hai châu, ngoài thì kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, chiếm giữ đất Hải Nam, quân xưng bốn mươi vạn.3

Tên đã thành Thúc Loan, chữ "tự xưng" thành "hiệu là", và có thêm ba thứ mà Cựu Đường thư không có: ba mươi hai châu, nước Kim Lân, bốn mươi vạn quân. Trong các sử Trung Hoa đã mở cho tập này, cả ba chỉ có ở đây, và sách không nói chúng lấy từ đâu.

Hai chữ Hải Nam nghĩa đen là phía nam biển; chưa có căn cứ để hiểu thành hòn đảo Hải Nam.

Trước con số bốn mươi vạn, nguyên văn dùng đúng cái chữ đã dùng cho hiệu Hắc Đế: chữ hiệu, nghĩa là "xưng là", "tiếng là". Chính người chép đã đánh dấu đó là con số danh nghĩa, không phải con số có ai đếm.3

Phía nhà Đường, bản này thêm một người. Tư Húc tự xin đi; có chiếu cho mộ mười vạn con em các thủ lĩnh, cùng An Nam đại đô hộ theo đường cũ Mã Viện, đánh ra chỗ không ngờ. Giặc trố mắt không kịp tính, bèn đại bại; đắp xác làm kinh quan rồi về.3

Truyện dừng ở hai chữ đại bại, không nói Mai bị bắt hay bị chém. Phần bản kỷ của cùng bộ sách thì gói cả việc vào một ngày: tháng Bảy, ngày Bính Tuất, người An Nam là Mai Thúc Loan làm phản, bị giết.4 Làm phản và bị giết đứng chung dưới một ngày; đó là ngày ghi sổ, không phải ngày khởi sự.

Tư Mã Quang đọc rồi, và gạt đi

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Hai mươi tư năm sau, năm 1084, dâng bộ . Chính văn chép:

Bọn tặc soái An Nam là Mai Thúc Yên đánh vây châu huyện; sai phiêu kỵ tướng quân kiêm nội thị Dương Tư Húc đi đánh. Tư Húc mộ con em các man, được hơn mười vạn quân, đánh úp, phá tan, chém Thúc Yên, chất xác làm kinh quan rồi về.5

Tên thứ ba: Thúc Yên. Không phải lỗi bản số hoá: bản có chú của Hồ Tam Tỉnh cũng in như vậy. Câu này không có Hắc Đế, không có Lâm Ấp, không có quân số phía ông.

Im lặng ấy có chủ ý. Trong bộ Khảo dị viết kèm để giải thích mình chọn bản nào, ông ghi:

Cựu kỷ nói tháng Tám ngày Bính Tuất; xét tháng Tám mồng một là ngày Canh Tý, không có ngày Bính Tuất. Truyện Tư Húc nói thủ lĩnh Mai Huyền Thành tự xưng Hắc Đế, cùng Lâm Ấp, Chân Lạp thông mưu, hãm phủ An Nam. Nay theo Bản kỷ.6

Nghĩa là Tư Mã Quang đã đọc chuyện Hắc Đế, chuyện liên kết Lâm Ấp, Chân Lạp, chuyện hãm phủ, và cố ý không đưa vào chính văn. Còn "Bản kỷ" ông theo là bản nào thì ông không nói rõ.

Về lịch, Tân Đường thư thì đặt ngày Bính Tuất vào tháng Bảy.4 Cùng một việc, hai bộ sử chép hai tháng khác nhau.

Năm 722, hay "đầu Khai Nguyên"?

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Phần bản kỷ của cả hai bộ Đường thư, cùng với Thông giám, đều xếp việc vào năm Khai Nguyên thứ mười, tức năm 722. Còn hai truyện Dương Tư Húc thì chỉ nói "đầu Khai Nguyên", không cho năm.2

Khai Nguyên bắt đầu vào cuối năm 713, nên đọc vội thì chữ "đầu" dễ thành năm 713. Nhưng trong chính truyện ấy, việc kể liền sau được ghi là năm thứ mười hai; chữ "đầu" chỉ có nghĩa là trước năm đó. Trong các văn bản chữ Hán đã mở cho tập này, nơi nào có năm cụ thể thì đều là năm thứ mười; không bản nào ghi năm 713 cho ông.3

Sử Việt chép lại: ba mươi vạn

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Trong số đã mở, bản sớm nhất có tên ông là của , soạn khoảng năm 1335, ở Trung Quốc:

Đầu Khai Nguyên đời Huyền Tông, cừ soái Mai Thúc Loan làm phản, hiệu là Hắc Đế, ngoài kết với Lâm Ấp, Chân Lạp, quân xưng ba mươi vạn, chiếm giữ An Nam.7

Ba mươi vạn, không phải bốn mươi. Ba mươi hai châu và nước Kim Lân rơi mất. Phía nhà Đường vẫn là Dương Tư Húc cùng đô hộ Quang Sở Khách, theo đường cũ Mã Viện, phá tan quân giặc, đắp xác làm kinh quan.7

Khoảng một trăm bốn mươi năm sau, năm 1479, đưa việc này vào , ở năm Nhâm Tuất, Khai Nguyên thứ mười:

Tặc soái Mai Thúc Loan chiếm châu, xưng Hắc Đế, ngoài kết với người Lâm Ấp, Chân Lạp, quân xưng ba mươi vạn. Vua Đường sai nội thị tả giám môn vệ tướng quân Dương Tư Húc cùng đô hộ Nguyên Sở Khách đánh dẹp.8

Quốc sử Việt dùng đúng chữ của sử Trung Hoa: tặc soái, tức chủ giặc. Con số ba mươi vạn theo An Nam chí lược, không theo Tân Đường thư. Năm thì gắn chắc vào 722 theo các bản kỷ, dù phần còn lại là chi tiết của truyện Dương Tư Húc. Ông chiếm châu nào, quê ở đâu, câu ấy không nói, và ở đây không có lời bàn của sử thần.8 Còn cái tên Nguyên Sở Khách thì về sau Cương mục chú rằng sử cũ chép chữ Nguyên là sai.9

Sử thần triều Nguyễn không tin con số

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Bộ của Quốc sử quán triều Nguyễn, biên soạn trong những năm 1856 đến 1884, chép phần cương như sau: mùa thu tháng Bảy, Mai Thúc Loan ở châu Hoan chiếm châu xưng đế; nhà Đường sai nội thị Dương Tư Húc và những người khác đánh phá.10 Bộ này theo tháng Bảy của Tân Đường thư, và đặt ông ở .

Phần mục dẫn lại gần nguyên đoạn Tân Đường thư, đủ cả ba mươi hai châu, Kim Lân và bốn mươi vạn.11 Rồi các sử thần viết một đoạn "kính xét":

Kính xét: đời Đường niên hiệu Khai Nguyên, An Nam đô hộ phủ vẫn ở Giao Châu, cai quản mười hai châu, năm mươi chín huyện, mỗi nơi đặt quan coi việc cai trị. Tô điệu phải nộp, binh lính phải ra, đều theo mệnh lệnh nhà Đường. Mà đô hộ phủ cùng các châu Phong, Ái, Lục, Diễn chưa nghe có chỗ nào bị hãm mất. Thúc Loan làm sao dấy được quân của ba mươi hai châu, quân xưng bốn mươi vạn?12

Họ tự trả lời:

Trộm nghĩ Thúc Loan chiếm giữ một châu, thế cũng nhỏ nhoi. Bấy giờ Huyền Tông thích lập công ngoài biên, Tư Húc, Sở Khách lợi dụng chỗ hiểm xa, khoa trương thế giặc để cầu công thưởng mà thôi. Nếu không, có chừng ấy binh giáp đất đai, sao quân Đường vừa đến đã sợ tan?12

Rồi họ trách cả quốc sử của mình: sử cũ cũng chép Thúc Loan ngoài kết Lâm Ấp, Chân Lạp, quân ba mươi vạn, ấy là lấy đại lược từ Đường thư, chưa xét cái thực.12

Đây là lời bàn thế kỷ XIX, không phải sử liệu mới. Nhưng nó sắc: người biên quốc sử cho một triều Việt không tin con số làm nên tầm vóc cuộc nổi dậy, và cho rằng nó bị thổi lên bởi chính những người đi dẹp.

Lời bàn này cũng có chỗ hở. Nó cãi với Tân Đường thư, nhưng không nhắc tới câu "đánh hãm phủ An Nam" trong truyện Dương Tư Húc của Cựu Đường thư, câu đi ngược đúng lập luận rằng phủ chưa từng bị hãm.2 Còn câu trách sử cũ lấy ba mươi vạn từ Đường thư thì không khớp với những gì đọc được: Tân Đường thư chép bốn mươi vạn, Cựu Đường thư không có con số nào cho quân phía ông, còn ba mươi vạn, trong các sách đã mở, xuất hiện sớm nhất ở An Nam chí lược.7

Từ tặc soái thành đế vương được tế

Đời sau nhớ lại

Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.

Quê cụ thể của ông, và một lời giải thích cho cái hiệu, được chép ở phần lời chú của Cương mục. Chú rằng Mai Thúc Loan người Mai Phụ, Thiên Lộc, châu Hoan, nay thuộc huyện Can Lộc, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; Thúc Loan da đen, nên người trong châu gọi là Hắc Đế; nay còn dấu thành cũ ở gò núi Vệ Sơn, huyện Nam Đường, và có đền ở xã Hương Lãm cùng huyện, được xếp vào hàng đền đế vương các đời.9

Đó là lời chú thế kỷ XIX, không dẫn nguồn, cách sự kiện hơn một nghìn một trăm năm. Và nó kể nguồn gốc cái hiệu khác hẳn bản chép sớm nhất: Cựu Đường thư nói ông tự xưng Hắc Đế, còn lời chú này nói người trong châu gọi ông như thế vì màu da. Hai cách giải thích đứng cạnh nhau, và văn bản không cho ta cách chọn.

Sớm hơn Cương mục, năm Minh Mạng thứ hai, tức 1821, bộ kê danh sách các miếu đế vương được triều Nguyễn tế, trong đó có miếu Mai Hắc Đế ở xã Hương Lãm, Nghệ An; chữ Mai ở đây in bằng một mặt chữ Hán khác.13 Người mà sử Trung Hoa gọi là tặc soái, và Toàn thư chép lại y chữ ấy, tới đầu thế kỷ XIX đã được một triều Việt đặt vào hàng đế vương.

Còn chuyện gánh vải, chi tiết mà nhiều người nhớ nhất về ông, thì hay được kể lại, nhưng chưa truy được nó trong bộ sử nào.

Gom lại, phần các bản gặp nhau khá ít: năm 722 theo các bản kỷ, một người họ Mai ở An Nam nổi dậy; một hoạn quan nhà Đường đem hơn mười vạn quân mộ tại chỗ, theo đường cũ Mã Viện, đánh bất ngờ; ông thua. Cái hiệu Hắc Đế là chữ của sử Trung Hoa. Bốn mươi vạn là số xưng, chính sách chép đã đánh dấu như vậy; ba mươi hai châu thì chỉ Tân Đường thư có; và sử thần triều Nguyễn đã ngờ cả hai.

Tập sau: Khởi nghĩa Phùng Hưng — Bố Cái Đại Vương.

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Cựu Đường thư

    Bộ chính sử nhà Đường soạn đời Hậu Tấn; thiên địa lý chép bộ máy An Nam đô hộ phủ, còn truyện Lưu Diên Hựu là bản kể chi tiết nhất về cuộc vây phủ năm 687. · quyển 8, bản kỷ Huyền Tông thượng, năm Khai Nguyên thứ mười, tháng tám ngày Bính Tuất, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  2. Cựu Đường thư

    Bộ chính sử nhà Đường soạn đời Hậu Tấn; thiên địa lý chép bộ máy An Nam đô hộ phủ, còn truyện Lưu Diên Hựu là bản kể chi tiết nhất về cuộc vây phủ năm 687. · quyển 184, Hoạn quan truyện, truyện Dương Tư Húc, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  3. Tân Đường thư

    Bộ sử nhà Đường soạn lại đời Tống; ghi năm lập An Nam đô hộ phủ, đồ thổ cống của phủ, và kể vụ 687 gọn hơn Cựu Đường thư, chỉ nêu Đinh Kiến mà không có Lý Tư Thận. · quyển 207, Hoạn giả truyện thượng, truyện Dương Tư Húc, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  4. Tân Đường thư

    Bộ sử nhà Đường soạn lại đời Tống; ghi năm lập An Nam đô hộ phủ, đồ thổ cống của phủ, và kể vụ 687 gọn hơn Cựu Đường thư, chỉ nêu Đinh Kiến mà không có Lý Tư Thận. · quyển 5, bản kỷ Huyền Tông, năm Khai Nguyên thứ mười, tháng bảy ngày Bính Tuất, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  5. Tư trị thông giám

    Bộ sử biên niên của Tư Mã Quang đời Tống, chép liền mạch các triều Trung Hoa; nhiều câu về Giao Châu thời Lương mà sử Việt đời Lê chép lại gần nguyên chữ. · quyển 212, Đường kỷ 28, năm Khai Nguyên thứ mười, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  6. Tư trị thông giám

    Bộ sử biên niên của Tư Mã Quang đời Tống, chép liền mạch các triều Trung Hoa; nhiều câu về Giao Châu thời Lương mà sử Việt đời Lê chép lại gần nguyên chữ. · quyển 212, lời Khảo dị của Tư Mã Quang trích trong bản Hồ Tam Tỉnh âm chú, đối chiếu Thông giám khảo dị quyển 13 bản Tứ khố

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  7. An Nam chí lược

    Sách của Lê Tắc chép về nước Việt, xong năm 1335; đoạn kể cuộc đánh Lý Bí đời Lương đi theo đúng lời sử Trung Hoa. · quyển 4, mục Chinh thảo vận hướng, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  8. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 5, kỷ Thuộc Tuỳ Đường, tờ 4b, năm Nhâm Tuất, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  9. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4, năm Nhâm Tuất Khai Nguyên thứ mười, lời chú của sử thần triều Nguyễn

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  10. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4, năm Nhâm Tuất Khai Nguyên thứ mười, phần cương

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  11. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4, năm Nhâm Tuất Khai Nguyên thứ mười, phần mục dẫn Đường thư

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  12. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4, năm Nhâm Tuất Khai Nguyên thứ mười, lời bàn kính xét của sử thần triều Nguyễn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  13. Đại Nam thực lục

    Bộ biên niên chính thức của triều Nguyễn; ở năm Minh Mạng thứ hai có lời chú kê danh sách các miếu đế vương được triều đình tế, trong đó có miếu Mai Hắc Đế ở xã Hương Lãm, Nghệ An. · Chính biên đệ nhị kỷ quyển 10, năm Minh Mạng thứ hai, lời chú danh sách miếu đế vương

    Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn