Tập 8Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba

Triệu Quang Phục — Dạ Trạch Vương (548–550)

Toàn thư chép ông khá kỹ: cái đầm bùn, những chuyến thuyền độc mộc đi đêm, chiếc mũ móng rồng, trận thắng năm 550. Nhưng ngay đầu kỷ, người soạn tự ghi rằng sử cũ không chép ông, phải lấy từ dã sử — còn hai bộ sử Trung Hoa đã dò thì đặt đối thủ của ông ở một nơi khác hẳn.

3 lớp · 20 nguồn · Giọng đọc AI

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Trong , có hẳn một kỷ riêng. Ông có cha, có quê, có chức tước, có một căn cứ được tả tới từng lớp bùn, và một trận thắng được ghi tới tháng.1

Vậy mà ngay dưới tên kỷ ấy, người soạn sử đặt một dòng chữ nhỏ, nghe gần như một lời thú nhận:

Xét: sử cũ không chép Triệu Việt Vương… nay lấy dã sử và các sách khác, mới chép vị hiệu của Việt Vương.2

Tập này kể lại những gì Toàn thư chép, rồi đi tìm ông ở những bộ sử khác.

Cái đầm ở Chu Diên

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tập trước đã kể thua ở hồ Điển Triệt, lui vào động Khuất Lạo, giao cho đại tướng Triệu Quang Phục giữ nước, rồi mất ở đó. Tập này phải lùi lại một bước, vì theo Toàn thư, việc Quang Phục vào đầm xảy ra khi Lý Nam Đế còn sống.

Năm Đinh Mão, tức năm 547, Toàn thư chép: Quang Phục cầm cự với , chưa phân thắng bại. Quân Bá Tiên rất mạnh; Quang Phục liệu không chống nổi, bèn lui về giữ đầm Dạ Trạch.3

Sách tả cái đầm kỹ hơn tả trận đánh:

Đầm ấy ở , chu vi không biết bao nhiêu dặm, cây cỏ um tùm, bụi rậm che kín; giữa có nền đất ở được, bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào lướt trên cỏ nước mới tới được.3

Quang Phục thuộc đường lối trong đầm, đem hơn hai vạn người đóng ở nền đất giữa đầm. Cách đánh được chép gọn trong hai vế đối nhau: ban ngày tắt hết khói lửa, dấu người; ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại Bá Tiên. Giết và bắt được rất nhiều, lương thực cướp được thì dùng làm kế đánh lâu. Bá Tiên lần theo dấu mà đánh, rốt cuộc không làm gì được.3

Rồi tới câu cho ông cái tên của tập này: người trong nước gọi là Dạ Trạch Vương — vua đầm Đêm.3

Chữ "vương" ấy do người trong nước gọi, vào lúc vua của Quang Phục vẫn còn sống trong động Khuất Lạo.

Bộ triều Nguyễn chép lại đoạn này gần như nguyên chữ, trừ con số: ở đó Quang Phục chỉ đem hơn một vạn người vào đầm.4

Chử Đồng Tử vào sử bằng một lời chua

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Ngay sau chữ Dạ Trạch Vương, Toàn thư chèn một đoạn chữ nhỏ, mở đầu bằng hai chữ đời truyền. Đoạn ấy tóm tắt chuyện Tiên Dung và thời Hùng Vương, rồi kết: người thời ấy gọi bãi ấy là bãi Tự Nhiên, gọi đầm là đầm Nhất Dạ, nay vẫn còn tên cũ.5

Vậy là một chỗ có hai tên, ở hai tầng chữ. Chính văn chỉ gọi là Dạ Trạch, đầm Đêm. Tên Nhất Dạ Trạch, đầm Một Đêm, gắn với chuyện toà thành bay lên trời, chỉ có trong lời chua. Bản truyền thuyết của cái đầm ấy, , tập Chử Đồng Tử đã kể.

Đến triều Nguyễn, Cương mục chép lại lời chua ấy, ghi rõ nó lấy từ , và phê: việc thuộc hoang đường, chép phụ vào để tham khảo.6

Cương mục còn đưa thêm một lối giải thích khác cho cái tên, dẫn từ sách Đại Thanh nhất thống chí: thời Lương Vũ Đế, Trần Bá Tiên đánh Lý Bí, Bí trốn vào trong đầm, đêm ra cướp, nhân đó gọi là Dạ Trạch.6 Theo lời dẫn này, người đi đêm trong đầm là chính Lý Bí, không phải viên tướng của ông. Sách Nhất thống chí thì ta chỉ biết qua lời Cương mục dẫn lại.

Con trai viên tù trưởng Chu Diên

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Kỷ Triệu Việt Vương mở bằng một tiểu truyện ngắn. Vua họ Triệu, tên Quang Phục, con của Triệu Túc, người huyện Chu Diên, oai hùng dũng liệt, theo Nam Đế đi đánh dẹp có công, được phong Tả tướng quân. Nam Đế mất thì xưng vương, đóng đô ở Long Biên, rồi dời sang Vũ Ninh.1

Người cha, , đã có mặt từ buổi đầu của Lý Bí: năm 541, tù trưởng Chu Diên là Triệu Túc phục tài đức của vua, dẫn đầu đem người về theo.7

Dưới tên vua, người soạn đặt một câu bình chữ nhỏ, mà vế đầu là: vua dựa vào chỗ hiểm, bày kế lạ, để bẻ gãy kẻ địch lớn.8

Toàn thư lấy năm Mậu Thìn, 548, năm Lý Nam Đế mất, làm năm thứ nhất của Triệu Việt Vương, và ghi ông ở ngôi hai mươi ba năm.1 Như tập trước đã nhắc, Cương mục chê cách tính ấy là không hợp phép chép sử, vì năm ấy Quang Phục chưa xưng vương; nó đặt dòng Triệu Quang Phục xưng Việt Vương vào năm Kỷ Tỵ, 549, và đếm lại thành hai mươi hai năm.9

Móng rồng: chính văn không nói ai trao

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Năm Kỷ Tỵ, 549, Toàn thư chép:

Vua ở trong đầm, vì quân Lương không lui, bèn đốt hương cầu đảo, khẩn cáo trời đất thần kỳ; thế là được điềm lành mũ đâu mâu móng rồng, dùng để đánh giặc. Từ đó thanh thế quân lừng lẫy, đi đâu cũng không ai địch nổi.10

Vật thiêng tới tay vua, nhưng chính văn không nói nó tới từ ai. Chỉ có hai chữ điềm lành.

Người trao vật ấy chỉ xuất hiện ở tầng dưới, trong một lời chua nữa, lần này mở đầu bằng hai chữ tục truyền: thần nhân trong đầm là Chử Đồng Tử, bấy giờ cưỡi rồng vàng từ trời xuống, gỡ móng rồng trao cho vua, bảo cài lên mũ đâu mâu mà đánh giặc.11

Vậy trong Toàn thư, việc được móng rồng là chính văn; cái tên Chử Đồng Tử là lời đồn được chú bên dưới, có gắn nhãn hẳn hoi.

Cương mục giữ đúng cách chia tầng ấy: điềm móng rồng nằm trong phần mục, Chử Đồng Tử nằm trong phần chú, chỉ đổi thần nhân thành tiên nhân. Và nó đổi thêm một chữ trong câu chính: Toàn thư viết móng rồng dùng để đánh giặc, Cương mục viết dùng để ra oai với giặc.9

Năm 550 và cái chết của Dương Sàn

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Cuộc cầm cự kết thúc ở năm Canh Ngọ, 550. Toàn thư chép: mùa xuân, tháng Giêng, nhà Lương phong Bá Tiên làm Uy minh tướng quân, Thứ sử Giao Châu. Bá Tiên lại tính cầm cự lâu ngày, chờ bên kia hết lương, quân mỏi thì phá được. Gặp lúc bên Lương có loạn , Bá Tiên bị gọi về, giao cho tì tướng đánh vua.

Vua tung quân ra đánh; Sàn chống cự, thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về Bắc, nước được yên. Vua vào ở thành .12

Nhưng ngay trong Toàn thư, cái chết ấy đã có hai cách kể. Ở một chỗ khác trong cùng quyển, đặt dưới năm 571, tổng kết công của Triệu Việt Vương:

Vua thu nhặt tàn quân, dựa vào chỗ hiểm bùn lầy của đầm Dạ Trạch, đương đầu với Bá Tiên là bậc hùng một đời, rốt cuộc bắt được tướng của y là Dương Sàn, người phương Bắc vì thế phải lui quân.13

Chính văn nói Sàn thua chết; lời bàn nói Sàn bị bắt. Lĩnh Nam chích quái thì có cách thứ ba: Sàn bị chém trước trận.14 Không bản nào giải thích vì sao khác.

Bản sử và bản truyền thuyết lệch nhau ở đâu

Truyền thuyết kể

Chuyện truyền miệng, về sau được chép vào sách — không phải sự kiện đã kiểm chứng.

Tập Chử Đồng Tử đã kể Triệu Quang Phục theo Lĩnh Nam chích quái. Bản ấy và Toàn thư chung một cái khung, nhưng lệch nhau ở bốn chỗ.14

Thứ nhất, trong truyền thuyết, Lý Nam Đế cử Quang Phục làm tướng chống Bá Tiên. Trong Toàn thư, Nam Đế giao việc giữ nước cho ông khi chính mình đã thua chạy vào động Khuất Lạo.3

Thứ hai, thứ tự của phép lạ. Trong truyền thuyết, Bá Tiên bị gọi về trước, giao quân cho Dương Sàn, rồi Quang Phục mới ăn chay lập đàn và được móng rồng. Trong Toàn thư, móng rồng đến năm 549, khi quân Lương còn chưa lui; việc Bá Tiên bị gọi về là chuyện năm sau.10

Thứ ba, cái chết của vua cũ. Trong truyền thuyết, Quang Phục thắng trận rồi mới nghe tin Nam Đế mất, mới tự lập làm Triệu Việt Vương, đắp thành ở núi Trâu đất Vũ Ninh. Trong Toàn thư, Nam Đế mất năm 548, hai năm trước trận thắng.1

Và người trao móng rồng. Ngay trong Lĩnh Nam chích quái, câu chính cũng chỉ nói thần nhân; tên Chử Đồng Tử được ghi như một dị bản, một bản chép là Chử Đồng Tử.14 Sang Toàn thư, cái tên ấy lùi xuống lời chua.11

Trần Bá Tiên lúc ấy ở đâu

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

là bộ chính sử nhà Trần ở Nam triều, do Diêu Tư Liêm soạn đầu đời Đường, và quyển đầu của nó là bản kỷ của chính Trần Bá Tiên, chép dưới miếu hiệu Cao Tổ. Muốn biết ông ở đâu trong mấy năm ấy thì hỏi sách này.

Trần thư chép: dẹp xong phần quân còn lại của họ Lý, Bá Tiên được phong Chấn viễn tướng quân, Tây Giang đốc hộ, thái thú Cao Yếu, đốc quân bảy quận. Mùa đông năm 548, Hầu Cảnh đánh vào kinh sư, Bá Tiên toan đem quân đi cứu. Tháng bảy năm 549, ông tập hợp nghĩa binh ở Nam Hải. Tháng Giêng năm 550, ông xuất phát từ Thuỷ Hưng, qua núi Đại Dữu, tiến đóng ở Nam Khang. Cũng lúc ấy, Tương Đông vương thay mặt triều đình trao cho ông một loạt chức, trong đó có Minh uy tướng quân, Thứ sử Giao Châu.15

Chính văn đời Tống chép cùng một mạch: năm 548, dẹp xong, Bá Tiên được bổ về Cao Yếu.16 Cao Yếu thuộc miền Quảng Đông, Nam Khang thuộc miền Giang Tây ngày nay.

Trong quyển kỷ ấy của Trần thư, trên bản có kèm lời hiệu khám, không có tên Triệu Quang Phục, không có đầm Dạ Trạch, không có Dương Sàn. Chính văn ba quyển Thông giám chép những năm ấy cũng không có ba cái tên đó.1517 Ngay bài văn ban thưởng tổng kết công trạng của Bá Tiên ở Giao Châu, vốn kể tên từng nơi ông đã đánh, cũng chỉ có: Tân Xương, Điển Triệt, trải đủ gian nan; Tô Lịch, Gia Ninh, thảy thành gò xác. Không có một cái đầm nào.15

Đặt hai bản cạnh nhau thì thấy một chỗ khớp lạ. Toàn thư chép đúng tháng Giêng năm 550, đúng chức Thứ sử Giao Châu, chỉ đảo hai chữ của tên tướng hiệu thành Uy minh. Nhưng Toàn thư đặt người mang chức ấy bên bờ đầm, tính kế vây cho đối phương hết lương. Trần thư đặt ông ở Nam Khang, đang kéo quân lên phía bắc đánh Hầu Cảnh; chức Thứ sử Giao Châu được trao cho một người đang ở rất xa Giao Châu.1215

Hai bản không thể cùng đúng về chỗ đứng của Bá Tiên trong tháng ấy, và sách vở còn lại không đủ để phân xử. Sự im lặng của sử Trung Hoa cũng không chứng minh Triệu Quang Phục không có thật. Nó chỉ cho biết mọi điều ta biết về ông đều đi qua sách Việt.

Sách Việt cũ hơn cũng không có ông

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Mà cũng không phải mọi sách Việt. Như tập trước đã dẫn, , bộ sử khuyết danh thường được xếp vào đời Trần, kể rằng sau khi Lý Bí chết bệnh, dư đảng sợ binh thế của Bá Tiên, bèn đem cả bọn ra hàng. Không ai ở lại giữ nước. Bá Tiên được phong Binh uy tướng quân, Thứ sử Giao Châu, rồi chẳng bao lâu bị gọi về Bắc — cái chức ấy, tới đây, đã có ba tên. Cả quyển thượng của sách không có tên Quang Phục, không có đầm Dạ Trạch.18

của Lê Tắc, xong năm 1335, thì chép theo đúng lời sử Trung Hoa: đuổi tới động Khuất Lạo chém Lý Bí, đưa đầu về kinh, rồi dẹp nốt số quân còn lại đang vây Ái Châu.19 Đoạn ấy đi thẳng từ cái chết của Lý Bí sang việc dẹp tàn quân, không chừa chỗ nào cho một cuộc cầm cự trong đầm.

Hai bộ sách Việt thế kỷ XIV ấy im lặng, đúng như lời Toàn thư tự khai. Câu "sử cũ không chép" không nói rõ là bộ sử nào, nhưng những sách có trước Toàn thư mà ta đọc được quả thật không chép.

Cũng phải nói cho rõ: lời án ấy đứng ở đầu kỷ Triệu Việt Vương, còn đoạn về cái đầm nằm ngay trước đó, trong kỷ Lý Nam Đế.23 Câu chữ không nói đoạn ấy có cùng gốc dã sử hay không.

Đời sau xếp ông vào đâu

Đời sau nhớ lại

Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.

Gần bốn trăm năm sau Toàn thư, Cương mục vẫn chép đủ cái đầm, móng rồng, trận Dương Sàn. Nhưng trong phàm lệ, các sử thần triều Nguyễn xếp ông vào một danh sách: An Dương Vương, các vua nhà Triệu, hai vua Tiền Lý và Hậu Lý, Triệu Việt Vương, Nam Tấn Vương Xương Văn, đều không phải chính thống. Sử cũ viết các vị ấy bằng chữ lớn dưới hàng can chi; Cương mục theo lệ các nước chư hầu mà chua chữ nhỏ, và khi các vị ấy mất thì dùng một chữ khác với chữ dành cho vua chính thống.20

Ông được giữ lại trong quốc sử, nhưng hạ xuống một bậc.

Những gì ta biết về Dạ Trạch Vương nằm trên ba lớp: chính văn Toàn thư, mà người soạn tự nói là lấy từ dã sử; những lời chua mở bằng "đời truyền", "tục truyền"; và truyền thuyết trong Lĩnh Nam chích quái. Sử Trung Hoa chỉ thấy một Trần Bá Tiên đang kéo quân lên phía bắc.

Điều đáng quý là chính người chép sử đã báo trước điều đó, ngay đầu kỷ, bằng chữ nhỏ, cho ai chịu đọc thì đọc.2

Tập sau: Lý Phật Tử tranh ngôi, Vạn Xuân sụp đổ (571–602).

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Triệu Việt Vương, tờ 18a — tiểu truyện và chính văn năm Mậu Thìn 548

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Truyền thuyết kểVề đoạn văn

  2. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 4, đầu Kỷ Triệu Việt Vương, tờ 17b — lời án chữ nhỏ của người soạn

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  3. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Tiền Lý, năm Bính Dần 546 và Đinh Mão 547, tờ 17a–17b — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Truyền thuyết kểVề đoạn văn

  4. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4, năm Đinh Mão 547 — phần cương và mục

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  5. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Tiền Lý, tờ 17b — lời chua nhỏ sau tên Dạ Trạch Vương

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  6. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4, năm Đinh Mão 547 — lời chú địa danh và lời chú dẫn sử cũ

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  7. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Tiền Lý, năm Tân Dậu 541 — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  8. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Triệu Việt Vương, tờ 18a — lời bình chữ nhỏ dưới tên vua

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  9. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4, các năm Mậu Thìn 548 và Kỷ Tỵ 549 — cương, mục, phần chú và lời cẩn án của sử thần

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  10. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Triệu Việt Vương, năm Kỷ Tỵ 549, tờ 18b–19a — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Truyền thuyết kểVề đoạn văn

  11. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Triệu Việt Vương, tờ 19a — lời chua mở đầu bằng "tục truyền"

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Truyền thuyết kểVề đoạn văn

  12. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Triệu Việt Vương, năm Canh Ngọ 550 — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  13. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Hậu Lý, năm 571, tờ 21a–21b — lời bàn của Ngô Sĩ Liên

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  14. Lĩnh Nam chích quái

    Tập truyện dân gian chữ Hán, chép truyện họ Hồng Bàng đầy đủ chi tiết nhất. · quyển 1, truyện Đầm Một Đêm, phần cuối — chính văn và dị bản ghi kèm

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Truyền thuyết kểVề đoạn văn

  15. Trần thư

    Bộ chính sử nhà Trần ở Nam triều do Diêu Tư Liêm soạn đầu đời Đường; bản kỷ Trần Bá Tiên là nơi kể chi tiết nhất các cuộc hành quân của nhà Lương sang Giao Châu. · quyển 1, Cao Tổ kỷ thượng — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  16. Tư trị thông giám

    Bộ sử biên niên của Tư Mã Quang đời Tống, chép liền mạch các triều Trung Hoa; nhiều câu về Giao Châu thời Lương mà sử Việt đời Lê chép lại gần nguyên chữ. · quyển 161, năm Thái Thanh thứ hai 548 — chính văn, bản không có chú

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  17. Tư trị thông giám

    Bộ sử biên niên của Tư Mã Quang đời Tống, chép liền mạch các triều Trung Hoa; nhiều câu về Giao Châu thời Lương mà sử Việt đời Lê chép lại gần nguyên chữ. · quyển 160 đến 162 — chính văn, bản không có chú

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  18. Việt sử lược

    Bộ sử cổ khuyết danh kể buổi lập quốc mà không hề nhắc tới rồng tiên hay họ Hồng Bàng. · quyển thượng, mục chép các đời quan cai trị, dưới tên Dương Phiêu và Trần Bá Tiên — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  19. An Nam chí lược

    Sách của Lê Tắc chép về nước Việt, xong năm 1335; đoạn kể cuộc đánh Lý Bí đời Lương đi theo đúng lời sử Trung Hoa. · quyển 4, mục Chinh thảo vận hướng — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  20. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Quyển thủ, Phàm lệ — điều khoản về các vua không chính thống

    Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn