Tập 10Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba
An Nam đô hộ phủ và cuộc nổi dậy Lý Tự Tiên – Đinh Kiến
Năm 687, một viên đô hộ nhà Đường bắt các hộ người Lý đang nộp nửa thuế phải nộp đủ, rồi bị giết khi phủ thành bị vây đánh. Nhưng người đứng tên đầu trong cách gọi quen thuộc của cuộc nổi dậy đã chết trước khi nó nổ ra, và các bộ sử không chép giống nhau ai là người cầm quân.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tên tập này có hai người: Lý Tự Tiên và Đinh Kiến.
Nhưng theo mọi bộ sử có chép tên ông, Lý Tự Tiên đã bị giết trước khi cuộc vây phủ thành nổ ra. Còn người cầm quân vây thành thì bộ này chép là Đinh Kiến, bộ kia chép là một người khác hẳn, tên Lý Tư Thận.1
Tập này gỡ cái nút ấy. Nhưng trước hết phải biết cái phủ bị vây là gì, và nó ra đời khi nào. Vì ngay chuyện ấy, các bộ sử cũng không chép khớp nhau.
Tám mươi lăm năm, vài dòng về các viên quan
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tập trước khép lại ở năm 602, khi nước Vạn Xuân sụp đổ. Quãng tám mươi lăm năm từ đó tới năm 687, ở đây chỉ đi qua vài dòng mà Đại Việt sử ký toàn thư chép về những viên quan nhà Đường được cử sang.
Năm 618, Toàn thư ghi một người tên Khâu Hoà làm Giao Châu thái tổng quản. Năm 628, Lý Thọ làm đô đốc Giao Chỉ, vì tham ô mà mắc tội.2
Cũng năm ấy, một người tên Lư Tổ Thượng được sai sang Giao Châu nhưng từ chối. Câu ông nói được chép lại nguyên vẹn: Lĩnh Nam khí độc lam chướng, đã đi thì không có lẽ nào trở về. Ông bị chém.2
Năm 635, đô đốc Giao Châu là Lý Đạo Hưng chết tại chức vì lam chướng.2
Bốn dòng ấy không kể gì về người bản xứ. Chúng chỉ kể về các viên quan: một người mắc tội tham ô, một người không chịu đi và mất đầu vì thế, một người đi rồi không về.
Phủ ra đời năm nào: ba câu trả lời
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tên An Nam đô hộ phủ có từ khi nào? Thiên địa lý trong hai bộ sử nhà Đường trả lời giống nhau.
Cựu Đường thư chép: tháng tám năm Điều Lộ thứ nhất, đổi Giao Châu đô đốc phủ làm An Nam đô hộ phủ. Tức là năm 679. Tân Đường thư cũng ghi năm Điều Lộ thứ nhất.34
Nhưng cũng trong Cựu Đường thư, ở phần bản kỷ chép việc từng năm của vua Cao Tông, việc đổi Giao Châu làm An Nam đô hộ phủ lại được đặt vào tháng tám năm 681. Một bộ sử, hai năm khác nhau.5
Sử Việt thêm con số thứ ba. Toàn thư đặt việc nhà Đường đổi Giao Chỉ làm An Nam đô hộ phủ vào năm 622.6
Bốn thế kỷ sau, các sử thần triều Nguyễn soạn Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép việc lập phủ vào năm 679, rồi thêm một dòng chú: sử cũ chép là năm Vũ Đức thứ năm, sai; nay theo Đường thư mà sửa. Năm Vũ Đức thứ năm chính là năm 622.7
Cương mục chỉ nói là sai, không nói vì sao sai. Có một điều trùng đáng để ý: trong hai bộ Đường thư, năm 622 là năm của một cái tên khác, năm quận Giao Chỉ đổi thành Giao Châu, và theo Cựu Đường thư thì cũng là năm đặt Giao Châu tổng quản phủ.34
Việt sử lược thì ghi đúng năm 679, nhưng chép luôn rằng năm ấy nhà Đường lấy Lưu Diên Hựu làm đô hộ. Như sẽ thấy dưới đây, chính tiểu sử của Diên Hựu cho thấy ông sang muộn hơn thế.8
Cái phủ ấy gồm những gì
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Sử Đường tả bộ máy này rất tiết kiệm lời. Câu đáng giá nhất nằm trong thiên địa lý của Cựu Đường thư: Thứ sử kiêm chức Đô hộ, coi bốn nghìn hai trăm quân.3
Tức là một viên quan vừa cai trị châu Giao, vừa giữ chức đô hộ. Con số bốn nghìn hai trăm quân là con số sách chép, không kèm năm nào. Hãy giữ nó trong đầu, vì tới năm 687 ta sẽ gặp một con số khác hẳn.
Thiên địa lý ấy chép cả dân số và đường xa. Riêng phủ trị ở Giao Châu, theo số liệu mà sách gọi là số "cũ", có tám huyện, hơn mười bảy nghìn năm trăm hộ, gần tám mươi chín nghìn khẩu. Tới thời Thiên Bảo, giữa thế kỷ VIII, là bảy huyện, hơn hai mươi bốn nghìn hộ, gần một trăm nghìn khẩu. Đó chỉ là phủ trị, không phải mọi châu thuộc An Nam. Từ đây về kinh đô Trường An là bảy nghìn hai trăm năm mươi ba dặm.3
Tân Đường thư xếp nơi này vào hạng trung đô hộ phủ, ghi có một đạo quân gọi là quân Kinh lược, và liệt kê đồ thổ cống: chuối, cau, da cá mập, mật trăn, lông chim trả. Trị sở ban đầu đặt ở Giao Chỉ, mãi tới năm 825 mới dời về Tống Bình.4
Chuối, cau, mật trăn, và bảy nghìn dặm đường. Chừng ấy là những gì sử Đường cho ta biết về cái phủ trước khi nó bị vây.
Nửa thuế là nửa của cái gì
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Vụ năm 687 bắt đầu bằng một câu về thuế. Bản chi tiết nhất nằm trong Cựu Đường thư:
Các hộ người Lý ở Lĩnh Nam xưa nay nộp nửa phần thuế; đến khi Diên Hựu tới, bèn bắt nộp đủ.1
Chữ Lý ở đây phải nói ngay cho khỏi nhầm. Nó là tên gọi một nhóm người ở Lĩnh Nam, viết bằng một chữ khác hẳn chữ Lý là họ của Lý Tự Tiên hay Lý Tư Thận. Hộ người Lý là hộ của những người thuộc nhóm ấy, không phải hộ của một nhà họ Lý nào.1
Vậy cái "nửa" ấy từ đâu ra? Các đoạn sử chép vụ 687 không nói. Nhưng Thông điển, bộ sách chép chế độ các đời, giữ một điều luật nhà Đường ban năm 619. Mỗi suất đinh nộp tô hai thạch; riêng các châu Lĩnh Nam thì nộp thuế bằng gạo, hộ hạng trên một thạch hai đấu, hạng giữa tám đấu, hạng dưới sáu đấu; còn các hộ người Di, người Lạo thì đều nộp một nửa.9
Nối điều luật năm 619 với vụ năm 687 là cách đọc của người soạn tập này, không phải của sử cũ. Điều luật cũng gọi là người Di, người Lạo, chứ không dùng chữ Lý. Nhưng nếu đọc như vậy thì cái mà Diên Hựu bỏ đi có thể là một mức giảm đã được ghi thành luật ngay từ những năm đầu nhà Đường.
Viên đô hộ trong thiên văn chương
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Lưu Diên Hựu không có truyện riêng trong Cựu Đường thư. Ông được chép kèm, như một người cháu, vào truyện Lưu Dận Chi, trong thiên Văn uyển, tức "vườn văn". Tân Đường thư thì dành cho ông một mục riêng, cũng trong thiên Văn nghệ.110
Theo truyện, ông người Bành Thành, đỗ tiến sĩ, từng được sai xét xử dư đảng của Từ Kính Nghiệp, và xử khoan. Rồi ông ra làm Thứ sử Cơ Châu, chuyển sang làm Đô hộ An Nam.1
Vụ Từ Kính Nghiệp là việc năm 684, nên ông sang An Nam sau năm ấy, không phải năm 679 như Việt sử lược chép.
Một chi tiết đáng giữ lại: viên quan bị nhớ tới vì một lệnh thu thuế gắt lại có tiểu sử mở đầu bằng một người xét án khoan hoà, và được xếp vào thiên của những người làm văn.
Năm 687: vây phủ
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Cựu Đường thư kể tiếp, và đây là bản đầy đủ nhất còn lại.
Lệnh nộp đủ thuế ban ra, người bên dưới đều oán, mưu toan làm phản. Diên Hựu ra tay trước: giết kẻ cầm đầu là Lý Tự Tiên.1
Giết người cầm đầu không dập được việc. Năm Thuỳ Củng thứ ba, đồng đảng của Tự Tiên là Đinh Kiến, Lý Tư Thận và những người khác bèn dẫn quân vây phủ An Nam. Năm ấy là năm 687.1
Rồi tới con số đáng đặt cạnh bốn nghìn hai trăm quân lúc nãy: bấy giờ trong thành lính khoẻ không quá vài trăm. Diên Hựu đóng cửa cố thủ, chờ quân cứu từ các vùng lân cận.1
Có một đạo quân ở gần, nhưng nó không động. Sử chép một người tên Phùng Tử Du, thuộc một đại tộc ở Quảng Châu, và tả ông bằng những chữ rất nặng: vui trên tai hoạ của người, muốn nhân lúc nguy mà lập công, bèn giữ quân không đánh, buông cho giặc, khiến tai hại càng thêm lớn.1
Diên Hựu bị Tư Thận giết. Sau đó Tư mã Quế Châu là Tào Huyền Tĩnh đem quân đánh bọn Tư Thận, bắt được, rồi chém hết dưới thành An Nam.1
Đoạn sử khép lại ở đó.
Bốn bộ sách, bốn danh sách
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Đặt Cựu Đường thư cạnh các bản chép khác thì cái nút trong tên tập mới lộ ra.
Tân Đường thư kể gần như cùng mạch, nhưng gọn hơn. Diên Hựu giết đầu sỏ là Lý Tự Tiên, rồi dư đảng là Đinh Kiến cùng những người khác bèn làm phản, họp quân vây phủ An Nam. Trong bản này không có Lý Tư Thận. Diên Hựu bị hại, sách không nói ai giết. Người bị Tào Huyền Tĩnh chém là Đinh Kiến. Bản này cũng không ghi năm.10
Việt sử lược chép theo mạch của Tân Đường thư: có Lý Tự Tiên bị giết, dư đảng vây phủ thành giết Diên Hựu, nhưng không nêu tên Đinh Kiến.8
Tư trị thông giám đặt việc vào tháng bảy năm 687 và kể theo lối khác nữa. Sách không nêu tên người bị Diên Hựu giết trước, chỉ gọi là kẻ cầm đầu. Thông giám có một câu mà hai bộ Đường thư không có: hộ người Lý không theo. Người làm loạn sau đó là bọn Lý Tư Thận, và không có Đinh Kiến. Thành cũng không chỉ bị vây: bọn Tư Thận đánh phá được phủ thành An Nam, giết Diên Hựu. Người bị chém là bọn Tư Thận.11
Toàn thư cũng chép vào tháng bảy năm 687. Nửa đầu gần như lặp lại câu thuế của Thông giám; nửa sau gần như lặp lại Tân Đường thư. Ở đây Lý Tự Tiên được gọi là người bày mưu, và bị Diên Hựu giết. Dư đảng là Đinh Kiến họp quân vây phủ thành. Rồi Toàn thư có một chỗ khác với cả ba bản kia: Kiến giết Diên Hựu.12
Vậy xếp lại cho rõ.
Lý Tự Tiên là người bị giết trước, không cầm quân vây thành. Đinh Kiến và Lý Tư Thận là hai người khác nhau, cùng là đồng đảng của Tự Tiên. Cựu Đường thư có cả hai, Tân Đường thư chỉ có Đinh Kiến, Thông giám chỉ có Lý Tư Thận.
Người giết Diên Hựu là Lý Tư Thận theo Cựu Đường thư, là Đinh Kiến theo Toàn thư, còn Tân Đường thư thì không nói. Hai bộ Đường thư nói thành bị vây; Thông giám nói thành bị phá.
Lý Tự Tiên và Lý Tư Thận, hai cái tên nghe gần nhau, nhưng là hai người. Đó là điều đáng nhớ nhất trong tập này.
Cái tên trong mục lục
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Tên tập này ghép Lý Tự Tiên với Đinh Kiến. Đặt cạnh những gì vừa kể, cặp tên ấy trùng đúng với dàn người trong bản của Toàn thư: Tự Tiên bày mưu, Kiến cầm quân và giết viên đô hộ. Lý Tư Thận, người mà Cựu Đường thư chép là kẻ giết Diên Hựu, không có mặt trong bản ấy.12
Toàn thư còn viết khác mặt chữ ba cái tên: chữ Tiên trong tên Lý Tự Tiên, Phùng Tử Du thành Phùng Tử Do, Tào Huyền Tĩnh thành Tào Trực Tĩnh. Cương mục bắt cả ba, ghi rằng sử cũ chép như vậy đều sai, nay theo Đường thư mà sửa. Còn dòng tóm việc của Cương mục thì không nêu tên thủ lĩnh nào: hộ người Lý làm loạn, giết Đô hộ Lưu Diên Hựu.13
Tới thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ nhắc lại vụ này trong một lời bàn mà Cương mục dẫn ở mục năm 803. Ông gọi nó bằng tên một người: Diên Hựu hà hiếp hộ người Lý mà mở ra loạn Đinh Kiến. Và ông khép lời bàn bằng một câu về quan lại chứ không về người nổi dậy: quan coi biên cõi hiền hay không, điều hệ trọng là ở chỗ ấy.14
Mỗi bộ sử chép vụ 687 bằng vài câu, và vài câu ấy không khớp nhau về ai cầm đầu, ai giết ai, thành có vỡ hay không. Chỗ các bộ cùng chép thì chỉ có mấy điều: một mức thuế nửa bị bắt thành mức đủ, một người cầm đầu bị giết trước, một phủ thành bị vây đánh, một viên đô hộ chết, và một đạo quân từ Quế Châu kéo sang dẹp.
Tập sau: Khởi nghĩa Mai Thúc Loan — Mai Hắc Đế.
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Cựu Đường thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Cựu Đường thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tân Đường thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Cựu Đường thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Thông điển
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tân Đường thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tư trị thông giám
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn