Tập 6Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba
Khởi nghĩa Lý Bí, lập nước Vạn Xuân (541–544)
Sử Việt chép Lý Bí xưng đế, đặt niên hiệu, dựng điện và đặt tên nước là Vạn Xuân. Bốn bộ sử Trung Hoa chép cùng những năm ấy không có hai chữ Vạn Xuân; với họ, đó là một người bản thổ Giao Châu tiếm hiệu, còn đạo quân Lương sai sang đánh thì tan ở Hợp Phố vì lam chướng, không qua một trận nào.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Năm 544, theo sử Việt, ở Giao Châu có một ông vua mới. Ông xưng đế, đặt niên hiệu, đặt trăm quan, dựng điện để triều hội, và đặt tên nước là Vạn Xuân, mong xã tắc truyền tới muôn đời.1
Mở bốn bộ sử Trung Hoa chép cùng những năm ấy, ta thấy đủ khung năm tháng. Nhưng không bộ nào có hai chữ Vạn Xuân.2345
Hai phía nhìn cùng một người, trong cùng bốn năm, và chép thành hai câu chuyện khác nhau. Tập này kể cả hai, và nói rõ câu nào là của ai.
Viên thứ sử trả tiền để được đi
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tập trước dừng lại ngay trước lúc khởi binh. Việc nổ ra vào năm Đại Đồng thứ bảy đời Lương Vũ Đế, quen quy ra là năm 541.
Trần thư và Tư trị thông giám chép gần như cùng một câu: Lý Bí liên kết hào kiệt mấy châu, cùng lúc nổi dậy.34
Cái đích đầu tiên là thứ sử Giao Châu, Tiêu Tư. Cách ông ta rời khỏi cuộc chơi là chi tiết lạ nhất của cả năm ấy. Lương thư, bộ chính sử của nhà Lương, chép trọn việc này trong một dòng:
Năm ấy, người dân bản thổ Giao Châu là Lý Bí đánh thứ sử Tiêu Tư; Tư đem của đút lót, được trở về Việt Châu.2
Không tháng, không trận, không số quân. Một viên thứ sử của triều đình trả tiền cho người đánh mình để được ra đi.
Thông giám của Tư Mã Quang đời Tống chép cùng việc ấy nhưng đổi nơi đến: Tư đem của đút cho Bí, chạy về Quảng Châu.4 Một bên nói Việt Châu, một bên nói Quảng Châu; các nguồn không đủ để chọn bên nào.
Đại Việt sử ký toàn thư theo Thông giám, cũng chép là Quảng Châu. Nhưng có một chữ làm đổi hẳn giọng câu văn: Tư biết việc, đem của đút cho vua, chạy về Quảng Châu.1 Toàn thư gọi Lý Bí là vua ngay từ những dòng của năm 541, dù việc xưng đế còn ba năm nữa mới tới.
Toàn thư chép tiếp: vua ra chiếm thành của châu. Rồi chính Toàn thư chua thêm một dòng nhỏ: tức Long Biên.1 Khâm định Việt sử thông giám cương mục triều Nguyễn cho thêm tháng: mùa đông, tháng mười hai, Lý Bí ở Giao Chỉ dấy binh, đuổi thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư, rồi chiếm giữ Long Biên.6
Nếu đúng là tháng mười hai âm lịch thì việc ấy có thể đã sang đầu năm 542 theo dương lịch. Ngày cụ thể thì chưa ai quy đổi, nên con số 541 nên hiểu là năm Đại Đồng thứ bảy, không hơn.6
Đạo quân tan trước khi gặp đối phương
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Năm sau, năm Đại Đồng thứ tám, nhà Lương sai quân. Đến đây phải nói thẳng: trong các bộ sử được đối chiếu cho tập này, không có trận nào Lý Bí đánh bại quân Lương trong hai năm 542 và 543. Thứ các bộ sử chép thay vào đó là một lệnh điều quân không có kết quả, và một đạo quân chết vì bệnh.24
Lương thư chép, tháng ba: sai thứ sử bốn châu Việt, La, An, Ái cùng đi đánh Lý Bí ở Giao Châu.2 Bốn viên thứ sử. Rồi Lương thư im lặng. Không chép họ đi tới đâu, đánh ra sao.
Phần kết thì nằm trong Thông giám, ở cuối năm ấy. Hai viên tướng được giao việc là Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng. Họ xin hoãn, với một lý do rất cụ thể: khí lam chướng mùa xuân đang bốc lên, xin đợi tới mùa thu.4 Lời xin không được nghe, họ vẫn phải đi.
Rồi Thông giám chép một câu khô khốc:
Bọn Quýnh tới Hợp Phố, người chết mất sáu bảy phần mười, quân tan vỡ mà về.4
Không có Lý Bí trong câu ấy, cũng không có trận đánh nào. Đạo quân gục vì bệnh ở Hợp Phố. Toàn thư chép lại gần như nguyên văn, cả lời xin đợi mùa thu lẫn con số mười phần chết sáu bảy.1 Kẻ thù thật sự của đạo quân này, theo đúng lời hai viên tướng, là mùa xuân phương Nam.
Bốn viên thứ sử trong Lương thư và hai viên tướng trong Thông giám không trùng tên nhau. Đó là cùng một cuộc điều quân được kể theo hai cách, hay là hai lần sai quân khác nhau, các dòng sử này không nói rõ.24
Người đút lót đi tố người khác
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Đạo quân tan thì phải có người chịu tội. Người đứng ra chỉ tội lại chính là Tiêu Tư.
Thông giám chép: Vũ Lâm hầu Tư tâu rằng Quýnh và Tử Hùng thông với giặc, dùng dằng không tiến; có sắc cho chết ở Quảng Châu.4
Chữ "giặc" trong câu ấy là phía Lý Bí. Đó là tên gọi dành cho ông trong lời tâu mà Thông giám chép lại.
Người soạn Toàn thư chép lại câu này và thêm đúng một chữ: Tư vu tâu.1 Thông giám chỉ nói "tâu". Việc lời buộc tội trở thành lời vu cáo là do sử Việt. Người đọc dễ hiểu vì sao họ ngờ: người vừa đút lót cho đối phương để thoát thân, nay lại tố người khác thông với đối phương. Nhưng chữ "vu" ấy là phán đoán của sử thần đời Lê, không có trong câu của Tư Mã Quang.
Trần thư kể cùng việc theo một góc khác: triều đình sai thứ sử Cao Châu là Tôn Quýnh, thứ sử Tân Châu là Lư Tử Hùng đem quân đi đánh; bọn Quýnh không tiến đúng lúc, đều bị giết ở Quảng Châu.3
Trần thư kể tiếp hệ quả. Em và con của Lư Tử Hùng nổi loạn, đánh Quảng Châu. Một viên quan tên Trần Bá Tiên dẫn ba nghìn quân tinh nhuệ, cuốn giáp đi gấp đường để cứu.3 Quyển đầu của Trần thư là bản kỷ của chính người này, người mà bộ sử ấy tôn là Cao Tổ. Và đây là bước ông bước vào chuyện Giao Châu.
Trận thắng duy nhất được chép là đánh Lâm Ấp
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Trận thắng duy nhất của phía Lý Bí mà các bộ sử chép lại trong mấy năm này không phải đánh quân Lương. Đó là đánh một nước láng giềng ở phía nam.
Lương thư, tháng tư năm Đại Đồng thứ chín, tức năm 543: Vua Lâm Ấp phá Đức Châu, đánh Lý Bí; tướng của Bí là Phạm Tu lại phá vua Lâm Ấp ở Cửu Đức; vua Lâm Ấp thua chạy.2
Điều đáng để ý là người chép chiến công ấy lại chính là bộ sử của nhà Lương. Với quân của mình, Lương thư chưa ghi một kết quả nào. Với quân của Lý Bí, nó ghi rõ tên viên tướng đã đánh bại Lâm Ấp.
Thông giám chép gọn lại và bỏ chuyện phá Đức Châu. Nam sử chép như Lương thư, thêm vài chữ: đánh cho chạy.45
Toàn thư thì đổi cảnh: tháng tư, vua Lâm Ấp cướp Nhật Nam; vua sai tướng là Phạm Tu đánh phá ở Cửu Đức.1 Việc Lâm Ấp phá Đức Châu biến mất, thay bằng việc cướp Nhật Nam; Cương mục cũng chép là cướp Nhật Nam.6 Và cũng như mọi dòng khác trong kỷ này, Phạm Tu không còn là "tướng của Bí" mà là tướng của vua.
Một người, ba cái tên hiệu
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Đầu năm Đại Đồng thứ mười, tức năm 544, Lý Bí xưng đế. Đây là chỗ hai phía chép khác nhau nhiều nhất, nên đi từng sách một.
Lương thư: Lý Bí ở Giao Chỉ tiếm vị hiệu, đặt trăm quan.2 Vị hiệu ấy là gì, sách không nói. Nhưng chữ "tiếm" đã nói đủ thái độ: đó là thứ lấy không phải phép.
Nam sử chép cùng ý, và thêm một mẩu: niên hiệu Thiên Đức.5
Thông giám: Lý Bí tự xưng Việt Đế, đặt trăm quan, đổi niên hiệu là Thiên Đức.4 Trong bốn bộ sử Trung Hoa được đối chiếu, đây là bộ duy nhất nêu ra tên hiệu, và tên hiệu ấy là Việt Đế.
Trần thư, bộ kể chiến sự kỹ nhất, không chép việc xưng hiệu. Với nó, Lý Bí từ đầu là một người bản thổ liên kết hào kiệt mấy châu mà nổi dậy.3
Còn sử Việt thì chép dài hơn hẳn. Toàn thư: vua tự xưng Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, đặt trăm quan; năm ấy được ghi là năm Giáp Tý, Thiên Đức năm thứ nhất.1 Rồi đến những chi tiết không bộ sử Trung Hoa nào trong số đã đối chiếu có:
Đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, mong xã tắc truyền tới muôn đời. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Cho Triệu Túc làm thái phó; Tịnh Thiều, Phạm Tu cùng được phong các chức tướng võ, tướng văn.1
Việt sử lược, bộ sử Việt soạn sớm hơn Toàn thư, gói tất cả trong một câu: tự xưng Nam Việt Đế, đặt trăm quan, đổi niên hiệu là Thiên Đức, quốc hiệu Vạn Xuân.7
Cương mục triều Nguyễn chép cùng những điều ấy, Nam Việt Đế, Thiên Đức, Vạn Xuân, nhưng đổi tên cái điện: dựng điện Vạn Xuân làm nơi triều hội.6 Toàn thư nói điện Vạn Thọ, Cương mục nói điện Vạn Xuân; không có căn cứ văn bản để chọn bên nào.
Vậy là cùng một người mang ba cái tên hiệu. Lương thư chỉ gọi là "vị hiệu" mà không nêu tên. Thông giám gọi là Việt Đế. Sử Việt, từ Việt sử lược tới Toàn thư và Cương mục, đều gọi là Nam Việt Đế.
Hai chữ chỉ sử Việt giữ lại
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Xếp các cách gọi lại cạnh nhau. Lương thư gọi ông là người dân bản thổ Giao Châu. Trần thư gọi là người bản thổ. Thông giám gọi là Lý Bí ở Giao Chỉ. Nam sử gọi là người Giao Châu.2345 Việc ông lên ngôi được gọi bằng chữ "tiếm". Phe của ông, trong lời tâu Thông giám chép lại, là "giặc". Và hai chữ Vạn Xuân không có trong bộ nào.
Chỗ gần nhất mà một sách Trung Hoa chạm tới hai chữ ấy lại phải đi qua tay sử Việt. Lời chú trong Cương mục dẫn sách Thái Bình hoàn vũ ký đời Tống: huyện Long Biên có đài Vạn Xuân, do Lý Bí ở Giao Chỉ dựng trong niên hiệu Đại Đồng nhà Lương.8 Đó là một cái đài, không phải quốc hiệu. Và ta chỉ biết câu ấy qua lời Cương mục dẫn lại; nó chưa được đối chiếu với chính sách gốc.
Hai phía còn khác nhau ở cả cách đếm thời gian. Toàn thư tính năm trị vì của ông từ năm 541, ghi năm ấy là năm thứ nhất, và chép ông ở ngôi bảy năm. Còn Thiên Đức năm thứ nhất lại là năm 544.1 Trong cùng một kỷ có hai chiếc đồng hồ chạy song song, một chiếc bắt đầu từ ngày khởi binh, một chiếc từ ngày xưng đế.
Nên hai câu chuyện không hẳn cãi nhau về sự việc. Cả hai bên đều chép có người nổi dậy, thứ sử bỏ chạy, quân Lương tan ở Hợp Phố, Lâm Ấp bị đánh lui, và có người xưng đế đặt niên hiệu Thiên Đức. Chỗ khác nhau là khung nhìn. Sử Trung Hoa thấy một người bản thổ tiếm hiệu ở một châu xa. Sử Việt thấy một ông vua có quốc hiệu, có điện, có trăm quan, và tính năm trị vì từ ngày ông cầm binh.12
Tập sau: Quân Lương phản công, Lý Nam Đế mất (545–548).
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Lương thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Trần thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tư trị thông giám
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Nam sử
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn