Tập 12Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba

Khởi nghĩa Phùng Hưng — Bố Cái Đại Vương

Năm 791 phủ đô hộ An Nam bị vây, và viên đô hộ lo mà chết. Sử Việt gọi người cầm đầu là Phùng Hưng, sử Trung Hoa chép cùng việc ấy dưới tên Đỗ Anh Hàn — còn hiệu Bố Cái Đại Vương thì đến sau khi ông đã mất.

2 lớp · 11 nguồn · Giọng đọc AI

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tập trước kết ở năm 722, khi cuộc nổi dậy của bị quân Đường dẹp. Gần bảy mươi năm sau, phủ đô hộ An Nam lại bị vây.

Lần này có một chuyện lạ. Mở các bộ sử Trung Hoa ra, ta thấy cuộc vây phủ, thấy viên đô hộ chết, thấy cả tên người cầm đầu. Nhưng cái tên ấy không phải Phùng Hưng.1

Cái tên ấy là . Còn trong quốc sử Việt, Đỗ Anh Hàn cũng có mặt — nhưng chỉ là một người cùng làng đã bày kế cho .2

Bốn dòng sử Trung Hoa

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Bản sớm nhất là , soạn giữa thế kỷ X, hơn một trăm rưỡi năm sau sự việc. Phần bản kỷ đời Đường Đức Tông, dưới tháng tư năm Trinh Nguyên thứ bảy, tức năm 791, chép gọn một câu:

Ngày Kỷ Mùi, thủ lĩnh An Nam là Đỗ Anh Hàn làm phản, đánh phủ đô hộ; đô hộ Cao Chính Bình lo mà chết.1

, soạn xong năm 1060, chép còn ngắn hơn: tháng tư, thủ lĩnh An Nam là Đỗ Anh Hàn làm phản, bị giết.3 Hai chữ "bị giết" chỉ có ở đây. Các bản khác im lặng về số phận của Đỗ Anh Hàn, trừ một lời bàn của người Việt mà ta sẽ gặp ở cuối bài.

Chỉ của Tư Mã Quang, dâng năm 1084, nói tới nguyên nhân:

Đô hộ An Nam Cao Chính Bình thu thuế nặng. Mùa hạ, tháng tư, các tù trưởng man là bọn Đỗ Anh Hàn dấy binh vây phủ đô hộ; Chính Bình vì lo mà chết. Các man nghe tin, đều hàng.4

Câu cuối đáng đọc chậm. Theo Thông giám, cuộc nổi dậy tự tan ngay khi viên đô hộ chết, trước cả khi triều đình cử người mới sang.

Hồ Tam Tỉnh, người chú Thông giám ở thế kỷ XIII, thêm một dòng: sử nói vậy là để tỏ rằng người man không phải ham loạn, mà khổ vì viên soái tham nên mới loạn.5

Chỗ thứ tư là truyện riêng của Triệu Xương trong Tân Đường thư, cũng mở bằng việc tù trưởng An Nam Đỗ Anh Hàn làm phản và đô hộ Cao Chính Bình lo mà chết.6 Cả bốn chỗ đều gọi người cầm đầu là Đỗ Anh Hàn. Không chỗ nào có tên Phùng Hưng.

Người Đường Lâm xô ngã được trâu

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

, trong kỷ thuộc Tuỳ Đường, chép mục năm Tân Mùi dài hơn hẳn, chừng hai trăm chữ. Và nó mở đầu đúng chỗ Thông giám mở đầu: mùa xuân, ở phủ đô hộ An Nam làm chính sự thu thuế nặng.2

Rồi mùa hạ tháng tư, người thuộc Giao Châu là Phùng Hưng dấy binh vây phủ; Chính Bình lo mà chết. Một dòng chú nhỏ trong sách ghi Đường Lâm ở huyện Phúc Lộc.2

Tới đây sách quay ngược thời gian, kể người này là ai.

Trước đó, Phùng Hưng giàu có, có sức mạnh, xô ngã được trâu, vật được hổ. Khoảng niên hiệu Đại Lịch đời Đường Đại Tông, tức quãng năm 766 đến 779, nhân Giao Châu có loạn, Hưng cùng em là dẫn nhau thu phục các ấp lân cận. Hưng hiệu là Đô Quân, Hãi hiệu là Đô Bảo.2

Hai anh em đánh nhau với Chính Bình lâu mà không thắng. Đến lúc này họ mới dùng kế của một người cùng làng là Đỗ Anh Hàn, đem quân vây phủ.2

Vậy nếu đọc theo Toàn thư, năm 791 không phải lúc cuộc nổi dậy bắt đầu. Anh em họ Phùng đã có thế lực từ thời Đại Lịch; năm 791 là đoạn kết.

Toàn thư còn chép cái chết của Cao Chính Bình hai lần trong cùng một mục. Lần đầu gọn một câu, lần sau kể kỹ hơn: Chính Bình lo giận thành bệnh, phát nhọt ở lưng mà chết.2 Viên đô hộ không chết vì gươm giáo. Về điểm này, sử Việt và sử Trung Hoa nói giống nhau.

Hai bản, một biến cố

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Đặt hai bản cạnh nhau thì chỗ trùng khớp nhiều đến khó bỏ qua. Cùng năm 791, cùng tháng tư, cùng viên đô hộ Cao Chính Bình, cùng cái chết vì lo, cùng nguyên nhân thuế nặng. Và cùng một cái tên Đỗ Anh Hàn.

Chỗ khác nằm đúng ở vai của cái tên ấy. Với sử Trung Hoa, Đỗ Anh Hàn là thủ lĩnh cầm đầu. Với Toàn thư, ông là người cùng làng hiến kế, còn người cầm đầu là Phùng Hưng.2

Các sử thần triều Nguyễn biên đã thấy chỗ vênh này và tự giải thích trong phần chú: xét bản kỷ Đường thư, năm Trinh Nguyên thứ bảy đời Đức Tông chỉ chép tù trưởng An Nam Đỗ Anh Hàn, không chép việc Phùng Hưng, có lẽ vì đất xa nên không rõ.7

Chữ "có lẽ" là của chính họ. Đó là một lời đoán ở thế kỷ XIX, không phải một văn bản mới tìm ra.

Cũng không phải người Việt nào viết về năm 791 cũng dùng tên Phùng Hưng. của Lê Tắc, xong năm 1335, ở mục Triệu Xương vẫn viết theo sử Trung Hoa: gặp lúc tù trưởng An Nam là Đỗ Anh Hàn làm phản.8 Và ở thế kỷ XVIII, trong chính lời bàn mà tập mười đã dẫn về loạn Đinh Kiến, viết tiếp: Chính Bình đánh nặng thuế châu mà làm động binh của Anh Hàn. Triệu Xương vừa đến, dân chúng bèn yên.9 Câu ấy gọi cuộc nổi dậy bằng tên Đỗ Anh Hàn.

Bài này không chọn giữa hai bản. Chỉ nói được thế này: trong các bộ sử đã đối chiếu, tên Phùng Hưng chỉ có ở Toàn thư và Cương mục.

Vào phủ rồi mất

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Theo Toàn thư, sau khi Chính Bình chết, Hưng nhân đó vào ở phủ trị, chưa được bao lâu thì mất.2 Cương mục chép gần như vậy: vào ở phủ trị, rồi mất.7

Không bản nào cho ngày mất. Theo thứ tự các câu trong Toàn thư, việc ấy nằm đâu đó giữa tháng tư và tháng bảy năm 791 — nhưng đó là suy ra từ trình tự văn bản, sách không ghi.2

Như vậy, người mà đời sau gọi là Bố Cái Đại Vương, lúc sống chưa hề mang hiệu ấy. Hiệu duy nhất sách chép cho ông khi còn sống là Đô Quân.

Ai đặt hiệu Bố Cái

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Toàn thư chép: con ông là tôn cha làm Bố Cái Đại Vương. Một dòng chú nhỏ giải nghĩa: tục gọi cha là bố, mẹ là cái, nên lấy làm tên.2 Bố Cái Đại Vương, nói nôm, là vị đại vương làm cha làm mẹ.

Câu chữ Hán ấy, xét riêng ngữ pháp, còn có thể đọc thành "người con tên An được tôn làm…". Nhưng phần phàm lệ của chính Toàn thư đọc là con tôn cha. Phàm lệ ấy giải thích vì sao sách không dựng cho Phùng Hưng một kỷ riêng mà để ông nằm trong kỷ thuộc Tuỳ Đường:

Bố Cái Vương giàu có, sức mạnh, cũng là bậc hùng một thời. Nhưng nhân lúc loạn dùng kế Đỗ Anh Hàn vây phủ đô hộ; viên quan trấn giữ bệnh chết, bèn vào ở phủ trị, chưa chính danh ngôi hiệu thì mất. Con mới tôn tước vương, cho nên chép nhẹ đi.10

Cương mục kể khác đúng ở chỗ này: dân chúng lập con ông là An làm Đô phủ quân, tôn Hưng làm Bố Cái Đại Vương.7 Theo bộ sử thế kỷ XIX, người tôn hiệu là dân chúng, không phải người con. Hiệu Đô phủ quân của Phùng An cũng chỉ thấy ở Cương mục.

Hai bản không cùng ý về người đặt hiệu. Nhưng cả hai cùng cho thấy một điều: hiệu ấy đến sau khi Phùng Hưng đã mất.

Triệu Xương sang, Phùng An ra hàng

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Nhà Đường không đợi lâu. Tháng năm, triều đình đặt quân Nhu Viễn ở phủ đô hộ. Thông giám và Toàn thư ghi ngày Tân Tỵ, Cựu Đường thư ghi ngày Tân Mùi.41

Tháng bảy, ngày Canh Thìn, nhà Đường lấy Thứ sử Kiền Châu là làm đô hộ An Nam, kiêm kinh lược chiêu thảo sứ.1

Toàn thư kể phần tiếp theo từ phía họ Phùng: Xương vào cõi, lòng người bèn yên. Xương sai sứ sang dụ An; An đem quân ra hàng. Rồi Triệu Xương đắp thêm La Thành cho vững chắc hơn.2

Tân Đường thư, trong truyện Triệu Xương, chỉ nói các bộ lạc quy phục, không dám ngang ngược.6 Thông giám chốt gọn: các man bèn yên.4

Thế là có hai kết cục. Thông giám cho rằng các man đã hàng ngay khi nghe tin Cao Chính Bình chết. Toàn thư thì để họ Phùng vào giữ phủ, người cha mất, người con cầm cự tới khi Triệu Xương sang dụ mới ra hàng.

Ngay nhiệm kỳ của Triệu Xương cũng vênh. Toàn thư chép ông ở chức mười bảy năm.2 Tân Đường thư ghi mười năm, rồi ông đau chân xin về; Cương mục dẫn sách An Nam kỷ yếu cũng ghi mười năm.67

Một người, hai lời phán

Đời sau nhớ lại

Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.

Thú vị nhất là cách chính quốc sử Việt nhìn ông. Phần đầu Toàn thư có in bài tổng luận viết năm 1514, và Lê Tung khen không tiếc lời:

Phùng Bố Cái là anh hào đất Đường Lâm, ghét sự hà khắc của Chính Bình, anh em thừa thời vùng dậy, cứu dân dẹp loạn, ban đức lập công, có thể gọi là bậc chủ nhân hậu.11

Rồi ông tiếc cho người con: An không nối giữ được, ra hàng Triệu Xương; tuy có Đỗ Anh Hàn là bề tôi mưu việc nước, cũng không cứu được họ Phùng khỏi mất.11 Ở đây Đỗ Anh Hàn là mưu thần của họ Phùng, khác hẳn vai thủ lĩnh trong sử Trung Hoa, và không có chữ nào về chuyện ông bị giết.

Cũng ở phần đầu bộ sử ấy, phàm lệ lại bảo chép ông nhẹ đi. Một bên gọi ông là bậc chủ nhân hậu, một bên không cho ông đứng thành một kỷ riêng. Hai lời phán cùng nằm trong phần mở đầu của một bộ quốc sử.10

Đền thờ và quê quán

Đời sau nhớ lại

Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.

Việc thờ cúng thì Toàn thư chép ngay trong chính văn: vương hiển linh, dân cho là thần, lập đền ở phía tây đô phủ, bốn mùa cúng tế. Chú nhỏ ghi đó là đền Phu Hựu Chương Tín Sùng Nghĩa Bố Cái Đại Vương, nay ở phường Thịnh Quang.2 Chữ "nay" ở đây là thời người chú sách, không phải hôm nay.

Cương mục thì sửa quê ông. Toàn thư chép Giao Châu; Cương mục cho là sai, đổi thành Phong Châu. Phần chú nói thêm: huyện Phúc Lộc của sử cũ nay đổi là Phúc Thọ, thuộc tỉnh Sơn Tây, và xét sổ sách tỉnh ấy thì xã Cam Lâm xưa gọi là Đường Lâm. Rồi một câu: Phùng Hưng, Ngô Quyền đều là người xã ấy, nay có đền ở đó.7 Chữ "nay" lần này là thế kỷ XIX.

Cùng một cuộc vây phủ năm 791, sử Trung Hoa nhớ bằng tên Đỗ Anh Hàn, sử Việt nhớ bằng tên Phùng Hưng, và người thờ ông nhớ bằng một hiệu mà ông chưa từng mang lúc sống.

Tập sau: Khởi nghĩa Dương Thanh (819–820).

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Cựu Đường thư

    Bộ chính sử nhà Đường soạn đời Hậu Tấn; thiên địa lý chép bộ máy An Nam đô hộ phủ, còn truyện Lưu Diên Hựu là bản kể chi tiết nhất về cuộc vây phủ năm 687. · quyển 13, Đức Tông kỷ hạ, năm Trinh Nguyên thứ bảy, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  2. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 5, kỷ thuộc Tuỳ Đường, tờ 6a đến 6b, năm Tân Mùi, chính văn và chú nhỏ

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  3. Tân Đường thư

    Bộ sử nhà Đường soạn lại đời Tống; ghi năm lập An Nam đô hộ phủ, đồ thổ cống của phủ, và kể vụ 687 gọn hơn Cựu Đường thư, chỉ nêu Đinh Kiến mà không có Lý Tư Thận. · quyển 7, Đức Tông kỷ, năm Trinh Nguyên thứ bảy, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  4. Tư trị thông giám

    Bộ sử biên niên của Tư Mã Quang đời Tống, chép liền mạch các triều Trung Hoa; nhiều câu về Giao Châu thời Lương mà sử Việt đời Lê chép lại gần nguyên chữ. · quyển 233, Đường kỷ 49, năm Trinh Nguyên thứ bảy, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  5. Tư trị thông giám

    Bộ sử biên niên của Tư Mã Quang đời Tống, chép liền mạch các triều Trung Hoa; nhiều câu về Giao Châu thời Lương mà sử Việt đời Lê chép lại gần nguyên chữ. · quyển 233, năm Trinh Nguyên thứ bảy, lời chú của Hồ Tam Tỉnh

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  6. Tân Đường thư

    Bộ sử nhà Đường soạn lại đời Tống; ghi năm lập An Nam đô hộ phủ, đồ thổ cống của phủ, và kể vụ 687 gọn hơn Cựu Đường thư, chỉ nêu Đinh Kiến mà không có Lý Tư Thận. · quyển 170, truyện Triệu Xương, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  7. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4, năm Tân Mùi 791, cương, mục và lời chú của sử thần triều Nguyễn

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  8. An Nam chí lược

    Sách của Lê Tắc chép về nước Việt, xong năm 1335; đoạn kể cuộc đánh Lý Bí đời Lương đi theo đúng lời sử Trung Hoa. · quyển 9, mục Triệu Xương, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  9. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4, lời bàn của Ngô Thì Sĩ do Cương mục dẫn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  10. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · phàm lệ ở quyển đầu bản khắc 1697

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  11. Việt giám thông khảo tổng luận

    Bài tổng luận của Lê Tung in ở đầu Toàn thư, khen Triệu Đà là bậc anh hùng tài lược rồi ở đoạn sau lại gọi kế lấy Âu Lạc của ông là hiểm. · lời bàn của Lê Tung

    Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn