Tập 7Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba
Quân Lương phản công, Lý Nam Đế mất (545–548)
Quân Lương đánh bật Lý Bí khỏi sông Tô Lịch, thành Gia Ninh rồi hồ Điển Triệt. Còn ông chết thế nào thì hai phía chép khác nhau: sử Trung Hoa nói ông bị người động Khuất Lạo chém, sử Việt nói ông ốm mà mất.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Lý Nam Đế chết thế nào?
Bốn bộ sử Trung Hoa trả lời gần như cùng một câu: ông bị người ở động Khuất Lạo chém, đầu bị gửi về kinh đô nhà Lương.1 Ba bộ sử Việt trả lời khác hẳn: ông ốm mà mất; hai bộ muộn hơn còn nói rõ ông ở lâu trong động ấy, nhiễm lam chướng.2
Và cuộc chiến dẫn tới cái chết ấy được kể kỹ nhất trong bản kỷ của chính người thắng trận, Trần Bá Tiên.3
Tập trước dừng ở năm 544, khi Lý Bí xưng đế. Tập này bắt đầu từ lúc nhà Lương sai quân sang.
Một viên thứ sử và một viên tư mã
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tư trị thông giám chép việc điều quân gọn trong một câu: vua Lương sai thứ sử Giao Châu là Dương Phiêu đánh Lý Bí, lấy Trần Bá Tiên làm tư mã; lệnh cho thứ sử Định Châu là Tiêu Bột hội quân với Phiêu ở Tây Giang. Sách đặt câu ấy sau các dòng của tháng sáu năm Đại Đồng thứ mười một, tức năm 545.4
Đại Việt sử ký toàn thư chép lại gần như thế, chỉ khác ở cuối câu: mùa hạ, tháng sáu, nhà Lương lấy Dương Phiêu làm thứ sử, Trần Bá Tiên làm tư mã, đem quân sang xâm lấn.5 Sử Trung Hoa nói "đi đánh", sử Việt nói "sang xâm".
Người cầm đầu trên danh nghĩa là Dương Phiêu. Vậy mà các bộ sách không thống nhất nổi cách viết tên ông: Lương thư, Nam sử, Trần thư và Toàn thư mỗi bộ viết một chữ khác nhau, và chữ trong Toàn thư hiếm tới mức sách phải chua cách đọc ngay bên cạnh.5 Viên thứ sử thì tên còn không chắc chữ, còn viên tư mã dưới quyền ông về sau được một bộ chính sử tôn làm Cao Tổ.
Trần thư kể đoạn mở đầu dài hơn: gặp lúc có chiếu cho Cao Tổ làm tư mã Giao Châu, lĩnh thái thú Vũ Bình, cùng thứ sử Dương Phiêu xuống đánh phương nam. Theo sách ấy, Tiêu Bột ngầm xúi quân sĩ sợ đường xa. Bá Tiên đáp bằng một câu trách thẳng vào họ nhà vua: tội bởi người trong tông thất, mới để kẻ tiếm loạn chiếm mấy châu, kéo dài đã bao năm.3
Rồi Trần thư ghi mốc: tháng sáu năm thứ mười một, quân tới Giao Châu; quân của Bí mấy vạn người dựng thành, dựng rào ở cửa sông Tô Lịch để chống quân triều.3
Chu Diên, sông Tô Lịch, thành Gia Ninh
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Thông giám kể trận mở màn theo ba chặng: tới Giao Châu, Bí đem ba vạn quân chống lại, thua ở Chu Diên, lại thua ở cửa sông Tô Lịch. Bí chạy vào thành Gia Ninh, các quân tiến lên vây.4
Toàn thư chép lại câu ấy gần như từng chữ.5 Còn Trần thư, trong đoạn kể chiến sự, chỉ nói tới một trận ở cửa sông Tô Lịch với "mấy vạn" quân.3
Thành Gia Ninh vỡ vào tháng Giêng năm sau, tức năm 546. Đến đây các bộ sách vênh nhau ở một chỗ nhỏ mà quan trọng: ai hạ thành.
Lương thư, trong bản kỷ Lương Vũ Đế, ghi tới tận ngày: ngày Quý Sửu, thứ sử Giao Châu Dương Phiêu hạ thành Gia Ninh ở Giao Chỉ; Lý Bí trốn vào động người Lạo. Giao Châu yên.1 Trong cả quyển bản kỷ ấy, tên Trần Bá Tiên không xuất hiện lần nào; công hạ thành được ghi cho Dương Phiêu.
Hai chữ "Giao Châu yên" được viết vào tháng Giêng năm 546, trong khi Lý Bí còn sống thêm hai năm và còn đánh thêm một trận lớn.
Nam sử chép y như Lương thư, chỉ nói rõ hơn nơi Lý Bí trốn: động Khuất Lạo.6 Thông giám cũng ghi công cho Dương Phiêu và những người đi cùng: bọn Dương Phiêu hạ thành Gia Ninh; Lý Bí chạy vào đất người Lạo ở Tân Xương; các quân đóng lại ở cửa sông.4
Rồi tới Toàn thư. Sử Việt theo Thông giám gần như từng chữ, nhưng ở câu này chủ ngữ đã đổi: mùa xuân, tháng Giêng, bọn Bá Tiên hạ thành Gia Ninh.5
Sử Trung Hoa ghi công cho viên thứ sử. Chính sử Việt lại dồn công về viên tư mã. Ta chỉ thấy việc đổi, không thấy lời giải thích.
Còn thành Gia Ninh nằm ở đâu thì lời chú của Khâm định Việt sử thông giám cương mục dẫn sách Nguyên Hoà quận huyện chí, nói rằng nó vốn là đất huyện Mê Linh.7
Hồ Điển Triệt và đêm nước sông dâng
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Lý Bí chưa chịu thua. Thông giám chép, đặt sau các dòng tháng chín năm 546, rằng Lý Bí lại đem hai vạn quân từ đất Lạo ra đóng ở hồ Điển Triệt, đóng nhiều thuyền chiến, chật kín mặt hồ.4
Trần thư tả thế trận kỹ hơn: Bí dựng trại ở địa giới Khuất Lạo, đóng thuyền chật hồ, và các quân sợ, đóng ở cửa hồ không dám tiến.3
Theo Trần thư, đây là lúc Trần Bá Tiên bước ra giữa. Dương Phiêu phải hỏi kế. Bá Tiên nói một bài dài, các tướng im lặng, rồi riêng quân của ông xông lên trước. Thông giám giữ lại một câu trong bài nói ấy: người Di, người Lạo là quân ô hợp, dễ đánh tan.4
Rồi tới chuyện lạ. Đêm ấy nước sông bỗng dâng bảy trượng, đổ vào hồ, và Trần thư thêm: dòng chảy xiết. Quân Lý Bí tan vỡ lớn, trốn vào động Khuất Lạo.3
Toàn thư kể cùng trận, nhưng khác hai chỗ. Nó ghi trận vào tháng tám, trong khi Thông giám đặt sau tháng chín, còn Trần thư thì dồn cả sang năm sau. Và nước sông trong Toàn thư chỉ dâng bảy thước, không phải bảy trượng.5 Một chữ khác nhau, con số chênh nhau mười lần. Cương mục triều Nguyễn theo Toàn thư, cũng chép bảy thước.8
Hồ Điển Triệt ở đâu? Các sử thần triều Nguyễn cũng chỉ dẫn lại được lời chú của Hồ Tam Tỉnh, qua bộ Thông giám tập lãm đời Thanh: hồ ở Tân Xương, tức Phong Châu. Còn động Khuất Lạo thì họ viết thẳng: không rõ.7
Người kể trận này là ai
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Quyển một của Trần thư là bản kỷ của Trần Bá Tiên, người lập ra nhà Trần. Sách soạn xong đầu đời Đường, bởi Diêu Tư Liêm, cũng là người soạn Lương thư.3
Bản kỷ ấy có đủ những thứ của một câu chuyện khai quốc, kể cả điềm lạ: một đêm ông mộng thấy trời mở ra mấy trượng, có bốn người áo đỏ bưng mặt trời tới, bảo ông há miệng nuốt vào.3
Ở chiến dịch Giao Châu, ánh đèn cũng rọi vào một người. Như vừa kể: người cầm đầu phải hỏi kế ông, quân ông xông trước, và nước sông tự dâng lên đúng đêm ấy.
Trần thư còn làm gọn thời gian. Nó gộp cả chuỗi việc từ năm 546 tới năm 548 vào năm Thái Thanh thứ nhất, và để Lý Bí bị giết ngay sau trận hồ. Lời hiệu khám của bản in hiện đại đã tự ghi chỗ lệch ấy: quân Lý Bí tan vào tháng Giêng năm Trung Đại Đồng thứ nhất, còn việc ông bị giết là vào tháng ba năm Thái Thanh thứ hai.9
Đó không phải lời buộc tội. Đó là đặc điểm của loại văn bản này: bản kỷ của người lập triều nhìn chiến dịch từ chỗ ông đứng. Và nó cho biết nên đọc Trần thư thế nào: giàu chi tiết về trận đánh, kém tin về ngày tháng.
So chữ thì thấy thêm một điều. Thông giám chép lời nói của Bá Tiên gần trùng câu chữ với Trần thư, nhưng ngày tháng lại khớp Lương thư — như thể Tư Mã Quang lấy lời lẽ từ bộ này, lấy lịch từ bộ kia.4
Lui vào động Khuất Lạo, trao quân lại
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Sau trận hồ, sử Việt có một đoạn mà sử Trung Hoa không có. Toàn thư chép: vua vốn không phòng bị, nhân thế tan vỡ, lui giữ động Khuất Lạo, sửa sang binh lính muốn đánh lại, giao cho đại tướng Triệu Quang Phục giữ nước, điều quân đánh Bá Tiên.5
Câu trao quân này chỉ có ở sử Việt. Về chính Lý Bí, sau trận hồ, sử Trung Hoa chỉ còn chép một việc nữa: cái chết của ông.1
Cương mục giữ chi tiết ấy, nhưng ghi rõ là lấy từ "sử cũ", và đổi chức của người nhận: không phải đại tướng mà là tả tướng quân. Câu của Cương mục là giao tả tướng quân Triệu Quang Phục giữ nước, điều quân chống Bá Tiên.8
Việt sử lược thì kể khác. Vế đầu giống Toàn thư như đúc: Bí không phòng bị, nhân thế tan vỡ, lui giữ động Khuất Lạo. Nhưng vế sau không có ai được trao nước cả: dư đảng sợ thế quân Bá Tiên, bèn đem cả bọn ra hàng.10
Người được giao giữ nước ấy làm gì tiếp theo là chuyện của tập sau. Tập này đi theo Lý Bí vào trong động. Và tới đó, sử bắt đầu chép hai cái chết khác nhau.
Một người, hai cái chết
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Trần thư: Bí trốn vào động Khuất Lạo; người Khuất Lạo chém Bí, truyền đầu về kinh sư. Năm ấy là năm Thái Thanh thứ nhất, tức năm 547.3
Lương thư, cùng một người soạn, lại đặt việc này vào ngày Kỷ Mùi, tháng ba năm Thái Thanh thứ hai, tức năm 548, rằng ngày hôm ấy, động Khuất Lạo chém Lý Bí, truyền đầu về kinh sư.1
Nam sử của Lý Diên Thọ đời Đường chép cùng ngày ấy, chỉ gọi tên kinh sư là Kiến Nghiệp.6 Thông giám đời Tống cũng đặt vào tháng ba năm ấy, và gọi kinh đô là Kiến Khang.11
Bốn bộ sử Trung Hoa, một kết cục: Lý Bí bị chính người trong động nơi ông trốn chém đầu. Chỉ khác nhau ở năm.
Rồi tới sử Việt. Việt sử lược không ghi năm, chỉ nói ông lui giữ động Khuất Lạo, ốm chết.10
Toàn thư ghi tới ngày, nhưng không đặt câu ấy trong kỷ của Lý Bí. Nó đứng ở đầu kỷ của người kế nghiệp, Triệu Việt Vương, năm Mậu Thìn, tức năm 548, rằng mùa xuân, tháng ba, ngày Tân Hợi, vua ở trong động Khuất Lạo đã lâu, nhiễm lam chướng mà mất.2
Cương mục chép theo: vua Bí ở động Khuất Lạo, dầm khí lam chướng, đến đây thì mất. Nhưng các sử thần triều Nguyễn sửa lại niên biểu: năm Mậu Thìn vẫn tính là năm Thiên Đức thứ năm của Lý Bí, chứ chưa phải năm đầu của người kế vị.8
Không bộ sử Việt nào trong ba bộ ấy nhắc tới bản bị chém, kể cả Cương mục, bộ vốn hay dẫn sử Trung Hoa ra để bác. Ở chỗ sử Trung Hoa viết "chém", sử Việt viết "ốm mà mất" — không tranh luận, không giải thích.8
Còn một chỗ lệch nhỏ nữa là ngày. Lương thư và Nam sử ghi ngày Kỷ Mùi; Toàn thư ghi ngày Tân Hợi. Trong Thông giám, dòng liền trước câu chép Lý Bí bị chém là một việc bên Đông Nguỵ, cũng trong tháng ba, và dòng ấy ghi ngày Tân Hợi.11 Có thể ngày của Toàn thư đã mượn từ dòng liền trên ấy. Nhưng đó chỉ là một khả năng rút ra từ việc đặt hai trang sách cạnh nhau; không bộ sách nào nói thế.
Tập này không chọn bên. Hai câu trả lời đứng cạnh nhau là tất cả những gì nguồn cho phép.
Vì sao thua: lời bàn của sử Việt
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Sử Việt không chỉ chép, mà còn dừng lại hỏi vì sao.
Ngay sau cái chết của Lý Bí, Toàn thư chép lời bàn của Lê Văn Hưu, sử gia thế kỷ mười ba. Ông mở bằng binh pháp: binh pháp nói ba vạn người cùng dốc sức thì thiên hạ không ai địch nổi. Nay Lý Bí có năm vạn quân mà không giữ được nước, thế thì Bí kém về tài làm tướng.12
Con số năm vạn là của Lê Văn Hưu. Chính văn các bộ sách chỉ chép ba vạn ở trận đầu, hai vạn ở hồ Điển Triệt, còn Trần thư nói "mấy vạn".4
Rồi ông nói nhẹ lại: Lý Bí cũng là tướng tài bậc trung, lâm trận thắng địch không phải là không làm được; vậy mà rốt cuộc hai lần thua, thân chết, ấy là vì chẳng may gặp Trần Bá Tiên giỏi dùng binh.12
Hai thế kỷ sau, Ngô Sĩ Liên thêm một vế, và vế ấy chính là đêm nước dâng: không chỉ gặp Bá Tiên giỏi dùng binh, lại gặp nước sông dâng mạnh giúp thế cho y, há chẳng phải tại trời sao.12
Câu tổng ở đầu kỷ Tiền Lý Nam Đế trong Toàn thư thì viết như một lời điếu: vua có chí diệt giặc cứu dân, chẳng may gặp Trần Bá Tiên sang đánh, nuốt hận mà mất.5
Đặt những lời bàn này cạnh chuyện thành Gia Ninh thì thấy một điều lạ. Lương thư ghi công hạ thành cho Dương Phiêu và không nhắc tên Bá Tiên. Toàn thư đổi chủ ngữ sang Bá Tiên, rồi trong lời bàn lại lấy tài dùng binh của Bá Tiên để giải thích vì sao Lý Bí thua. Đối thủ càng lớn thì trận thua càng dễ hiểu. Sử Việt không nói mình làm thế vì lẽ ấy; ta chỉ thấy hai việc đứng cạnh nhau.
Đến triều Nguyễn, vua Tự Đức phê vào Cương mục một câu khép lại theo hướng khác: Lý Nam Đế tuy sức không địch nổi, đến nỗi việc không thành, nhưng biết nhân thời vùng dậy, tự làm đế nước mình, đủ làm tiếng mở đường cho họ Đinh, họ Lý, há chẳng phải điều đáng khen sao.13
Tập sau: Triệu Quang Phục — Dạ Trạch Vương (548–550).
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Lương thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Trần thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tư trị thông giám
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Nam sử
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Trần thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tư trị thông giám
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn