Tập 9Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba
Lý Phật Tử tranh ngôi, Vạn Xuân sụp đổ (571–602)
Sử Việt kể về Lý Phật Tử một câu chuyện dài ba mươi năm: một nước nhỏ ở đầu nguồn sông Đào, một người con rể, chiếc mũ móng rồng bị đổi móng, rồi một ông vua chưa đánh đã hàng. Sử nhà Tùy chỉ biết một cừ súy người Lý ở Giao Châu làm loạn năm 602 — và chính trong Tùy thư, ông vừa hàng vừa bị bắt.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lý Phật Tử làm vua ba mươi hai năm, đóng đô ở Ô Diên rồi dời về Phong Châu, sử gọi là Hậu Lý Nam Đế.1
Theo Tùy thư, bộ chính sử của triều đại đã dẹp ông, Lý Phật Tử chỉ hiện ra quanh một biến cố, cuộc nổi dậy năm 602. Ở đó ông không phải hoàng đế, mà là một cừ súy ở Giao Châu, tức một thủ lĩnh địa phương mà triều đình có quyền gọi về chầu.2
Hai hồ sơ về cùng một người. Bên này có con rể, có mũ thần, có lời bàn đạo đức. Bên kia có quân lệnh, số doanh trại và một vụ án ăn hối lộ.
Và bên này đã tự khai nguồn. Tập trước dẫn dòng chữ nhỏ ở đầu kỷ Triệu Quang Phục; đọc trọn thì dòng ấy còn một nhân vật nữa:
Xét: sử cũ không chép Triệu Việt Vương và Đào Lang Vương. Nay lấy dã sử cùng các sách khác, mới chép vị hiệu của Việt Vương, và phụ thêm Đào Lang Vương vào để bổ sung.3
Đào Lang Vương là người mở đầu câu chuyện của Lý Phật Tử. Trước khi Phật Tử bước ra, người chép đã báo rằng phần lớn những gì sắp kể đến từ dã sử.
Một nước nhỏ ở đầu nguồn sông Đào
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Toàn thư đặt chuyện này ở năm 550, cùng năm Triệu Việt Vương vào thành Long Biên:
Anh của Nam Đế là Thiên Bảo, ở trong đất Di Lạo, xưng là Đào Lang Vương, dựng nước gọi là nước Dã Năng.4
Rồi sách lùi lại kể gốc gác. Hồi Lý Bí lánh vào động Khuất Lạo, người anh là Lý Thiên Bảo cùng một viên tướng trong họ là Lý Phật Tử đem ba vạn người vào Cửu Chân. Trần Bá Tiên đuổi đánh, Thiên Bảo thua, thu một vạn quân còn sót chạy vào vùng người Di Lạo giáp cõi Ai Lao. Thấy động Dã Năng ở đầu nguồn sông Đào đất rộng màu mỡ, ông đắp thành ở đó, lấy tên đất làm quốc hiệu.4
Năm 555, Đào Lang Vương mất, không có con nối. Mọi người tôn Lý Phật Tử lên thay.4
Vậy theo Toàn thư, sau Lý Nam Đế có hai dòng kế thừa cùng lúc: Triệu Việt Vương ở Long Biên, và một nước nhỏ của họ Lý ở phía tây. Ngay gốc gác ấy cũng vênh: Việt sử lược gọi Thiên Bảo là con của Lý Bí, chứ không phải anh.5
Năm trận không phân thắng bại
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Năm 557, Lý Phật Tử đem quân xuống phía đông, đánh nhau với vua ở huyện Thái Bình. Năm lần giáp trận, chưa phân thắng bại. Quân Phật Tử ít, lại ngờ vua có phép lạ, bèn xin giảng hoà, xin làm lễ thề.6
Vua nghĩ Phật Tử là người trong họ của Nam Đế, không nỡ dứt tình, nên chia ranh giới ở bãi Quân Thần, cho ở phía tây nước; Phật Tử dời về thành Ô Diên.6
Lời chua địa danh đặt Ô Diên ở xã Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm, và ghi thêm một chi tiết cho phần sau: xã ấy nay có đền thờ Bát Lang, tức là đền của Nhã Lang.6
Người con rể
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Phật Tử có con trai là Nhã Lang. Nhã Lang cầu hôn con gái vua là Cảo Nương, vua bằng lòng. Vua rất yêu Cảo Nương, nên cho Nhã Lang về ở rể. Chính văn còn giảng nghĩa ngay trong dòng: chồng ở nhà vợ thì gọi là ở rể.7
Năm 570, Nhã Lang hỏi vợ:
Xưa hai cha ta là kẻ thù, nay thành thông gia, chẳng cũng tốt sao. Nhưng cha bên này có phép gì mà đẩy lui được quân của cha bên kia?7
Cảo Nương không hiểu ý chồng, lén lấy chiếc mũ đâu mâu móng rồng ra cho xem. Nhã Lang ngầm tính kế đổi cái móng, rồi nói riêng với vợ:
Ta nghe ơn sâu của cha mẹ nặng như trời đất. Vợ chồng ta thương yêu nhau, chẳng nỡ xa cách, nhưng ta hãy tạm dứt tình mà về nhà.7
Nhã Lang về, bàn với cha đánh úp vua để lấy nước.7
Cái khuôn này quen. Khi bàn chuyện Mỵ Châu, chính Ngô Sĩ Liên đã ngờ rằng người chép sử thấy nhà Thục và nhà Triệu đều mất nước vì con rể, nên nhân một việc mà nói thành hai; ông còn nói con gái Triệu Việt Vương cũng được chép cảnh làm dấu đường y như Mỵ Châu.8 Nhưng kỷ Triệu Việt Vương trong Toàn thư hiện còn không có cảnh ấy: về Cảo Nương, nó chỉ chép việc nàng lén đưa mũ cho chồng xem, rồi theo cha chạy về nam.71
Ngô Sĩ Liên trách ai
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Ngay sau đoạn đổi móng, Ngô Sĩ Liên đặt một lời bàn. Người đọc có lẽ chờ ông mắng kẻ phản bội. Ông trách ông bố vợ:
Đàn bà gọi việc lấy chồng là về, thì nhà chồng mới là nhà của mình. Con gái vua đã gả cho Nhã Lang, sao không cho về nhà chồng? Cớ sao lại theo tục ở rể của nhà Tần, để đến nỗi bại vong?9
Theo ông, cái sai đầu tiên không nằm ở mưu của chàng rể, mà ở chỗ Triệu Việt Vương giữ con gái bên mình rồi rước con nhà đối thủ vào ở trong nhà. Một bài học về phép cưới xin, đặt giữa chuyện mất nước.
Chiếc mũ đội lên để chờ
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Năm 571, Toàn thư mở kỷ Hậu Lý Nam Đế. Phật Tử bội lời thề, cất quân đánh Triệu Việt Vương.
Việt Vương lúc đầu không hay biết ý ấy, vội vàng đốc quân, đội mũ đâu mâu đứng đợi.1
Câu ấy không nhắc lại cái móng đã bị đổi. Nó để người đọc tự nhớ.
Quân Phật Tử càng tiến. Việt Vương biết thế mình không chống nổi, đem con gái chạy về nam, định tìm chỗ hiểm mà ẩn; chạy tới đâu, quân Phật Tử theo sát tới đó. Tới cửa biển Đại Nha, bị nước chặn, vua than: Ta cùng đường rồi! Rồi gieo mình xuống biển. Họ Triệu mất. Người đời sau thấy ông linh thiêng, lập đền thờ ở cửa Đại Nha.1
Chính văn không nói Cảo Nương chết ra sao, cũng không có cảnh Nhã Lang hối hận. Chỉ trong lời bàn của Ngô Sĩ Liên có một vế ngắn: Nhã Lang chết trước.10 Bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục triều Nguyễn chép lại cảnh này thì nói thẳng điều Toàn thư để ngầm: vua đã mất móng rồng, bèn cùng Cảo Nương chạy về nam.11
Kế hay, nhưng chẳng bằng loài chó lợn
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Ngay dưới tên vua mới, bằng chữ nhỏ, Toàn thư ghi một lời phán cho cả đời ông:
Dùng mưu dối để gồm nước, trông thấy gió giặc đã hàng trước; trước sau việc làm đều chẳng phải nghĩa.1
Ngô Sĩ Liên thì đặt hai cái thước đo cạnh nhau:
Xét theo thuật bá, việc Hậu Nam Đế đánh Triệu Việt Vương là kế đắc sách. Xét theo đạo vương, thì chẳng bằng loài chó lợn.10
Và ông kết bằng một phép tính lời lỗ: tuy được nước, nhưng Nhã Lang chết trước, bản thân rốt cuộc không khỏi làm tù binh, há phải là lợi sao.10
Ba mươi hai năm nhìn từ phương Bắc
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Truyện Lệnh Hồ Hy, viên tổng quản Quế Châu, trong Tùy thư có một đoạn mà Toàn thư không có. Hy vâng chiếu, lệnh cho cừ súy Giao Châu là Lý Phật Tử vào chầu. Phật Tử muốn làm loạn, xin đợi đến giữa mùa đông mới lên đường. Hy muốn ràng buộc cho mềm, bèn nghe theo.2
Rồi có người lên tận cửa khuyết tố Hy ăn của đút của Phật Tử mà tha cho. Chẳng bao lâu tin Phật Tử làm phản bay tới; vua cả giận, tin lời tố là thật, sai sứ xiềng Hy giải về kinh, và Hy chết trên đường. Mãi đến khi Phật Tử bị bắt giải về kinh, có lời rằng Hy thật không nhận của đút, vua mới vỡ lẽ.2
Theo hồ sơ này, trước năm 602 Phật Tử là một thủ lĩnh địa phương mà triều Tùy triệu về chầu được. Theo Toàn thư, ông là hoàng đế từ năm 571. Các bộ sử Trung Hoa đã mở không biết Đào Lang Vương, Triệu Việt Vương hay Nhã Lang, và các nguồn không cho ta căn cứ để chọn giữa hai hồ sơ.
Năm 602, một cừ súy người Lý
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Truyện Lưu Phương trong Tùy thư chép:
Giữa niên hiệu Nhân Thọ, gặp lúc người Lý ở Giao Châu là Lý Phật Tử làm loạn, chiếm thành cũ của Việt Vương, sai người cháu con anh là Đại Quyền giữ thành Long Biên, biệt súy là Lý Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên.12
Chữ "người Lý" ở đây không phải họ Lý của Phật Tử. Đó là tên một tộc người, viết bằng một chữ Hán khác hẳn. Tư trị thông giám cũng gọi ông theo lối ấy: súy người Lý ở Giao Châu.13 Còn "thành cũ của Việt Vương" thì sách không nói là Việt Vương nào.
Tả bộc xạ Dương Tố tiến cử Lưu Phương có tài làm tướng. Phương được làm hành quân tổng quản đạo Giao Châu, thống lĩnh hai mươi bảy doanh; ai phạm lệnh thì chém ngay, nhưng lính ốm thì ông tự mình vỗ về nuôi nấng.12
Tới núi Đô Long, hơn hai nghìn giặc đến đánh quân triều đình, bị đánh tan. Tiến sát chỗ Phật Tử, Phương cho người tới dụ trước bằng lẽ hoạ phúc. Phật Tử sợ mà hàng, bị giải về kinh. Những kẻ gian hùng, sợ về sau lại làm loạn, đều bị chém.12
Bản kỷ của Tùy thư chỉ dành cho cả sự việc một câu, ở tháng Mười hai năm 602: người Giao Châu là Lý Phật Tử cất quân làm phản, sai Lưu Phương đi đánh dẹp.14 Đó là tất cả những gì triều đình phương Bắc cần ghi về ông.
Toàn thư chép lại, và đổi mấy chữ
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Đoạn năm 602 của Toàn thư chép lại gần như từng vế đoạn tương ứng của Tư trị thông giám, từ lời tiến cử của Dương Tố tới câu sợ mà xin hàng.1315 Ở phần kết, sử Việt dùng chính lời sử Trung Hoa. Nhưng đặt hai bản cạnh nhau thì thấy mấy chữ đã đổi.
Thông giám viết Lưu Phương thống lĩnh hai mươi bảy doanh mà tiến; Toàn thư viết sang xâm lấn. Thông giám viết tới Đô Long thì gặp giặc; Toàn thư viết gặp giặc cỏ. Toàn thư bỏ "thành cũ của Việt Vương", cho Phật Tử đóng đô ở Phong Châu.1315
Và cái kết đổi hẳn. Thông giám viết Phật Tử xin hàng, bị giải về Trường An. Toàn thư viết Phật Tử xin hàng, về Bắc rồi mất; dân lập đền thờ ông ở cửa biển Tiểu Nha, đối diện với đền Triệu Việt Vương.1315 Hai kẻ thù được thờ quay mặt vào nhau.
Ngô Sĩ Liên bàn ngay sau đó, bằng giọng lạnh nhất của ông trong kỷ này:
Làm gì có lẽ giặc tới sát bờ cõi, gươm giáo chưa chạm nhau mà đã sợ xin hàng? Vua đã hèn yếu, mà tướng tướng đương thời chẳng ai nói một lời, có thể gọi là nước không có người vậy.16
Trong bản Toàn thư, kẻ bị đánh tan ở Đô Long chỉ là giặc cỏ, và vua chưa giao binh đã hàng. Trong Tùy thư, đó là hơn hai nghìn người đến đánh quân triều đình; sách không nói họ có phải người của Phật Tử hay không.12
Hàng hay bị bắt
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Truyện Lưu Phương trong Tùy thư nói ông hàng.12 Truyện Lệnh Hồ Hy, trong chính bộ Tùy thư ấy, nói ông bị bắt.2 Thông giám theo chữ hàng.13 Toàn thư cũng theo chữ hàng, và thêm rằng ông về Bắc rồi mất.15 Lời bàn của Ngô Sĩ Liên thì nói ông làm tù binh.10 Không bộ sử Trung Hoa nào đã mở chép rằng ông chết. Toàn thư còn đặt riêng ở năm 603 việc Lưu Phương bắt các tướng cũ của Hậu Nam Đế, cho là bọn gian hùng, chém hết.17
Đời sau đọc lại chuyện Nhã Lang
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Toàn thư chép chuyện Nhã Lang vào chính văn, nhưng dưới lời án nói phần này lấy từ dã sử.3 Việt sử lược, bộ sử Việt có trước, không có Đào Lang Vương, Nhã Lang hay kỷ Hậu Lý Nam Đế; nó nhắc Phật Tử trong mục các quan cai trị, dưới tên Lưu Phương, như một súy của châu làm loạn rồi sợ mà xin hàng, và viết họ ông thành Nguyễn để kiêng chữ Lý.18 An Nam chí lược của Lê Tắc chép việc năm 602 theo đúng lời sử Tùy.19
Bốn trăm năm sau Toàn thư, các sử thần triều Nguyễn chép lại chuyện ấy trong Cương mục, rồi đặt ngay dưới một lời cẩn án:
Sử cũ chép Triệu Việt Vương được móng rồng của Chử Đồng Tử, Nhã Lang vào ở rể lấy trộm, vua Triệu vì mất móng rồng mà thua; so với chuyện An Dương Vương nước Thục và Trọng Thuỷ nhà Triệu thì như từ một khuôn mà ra, hoang quái không đáng tin, chẳng cần phải biện.11
Thế nhưng ngay trong Toàn thư, ai cũng đã có đền: người đời sau thờ Triệu Việt Vương ở cửa Đại Nha, dân thờ Phật Tử ở cửa Tiểu Nha,115 và lời chua còn chỉ ra đền Bát Lang ở Hạ Mỗ, tức đền của chính Nhã Lang.6 Người chép sử có thể ngờ câu chuyện, nhưng những người trong câu chuyện đều đã có chỗ hương khói.
Sáu mươi hai năm
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Toàn thư khép kỷ Hậu Lý Nam Đế bằng một dòng cộng sổ:
Hậu Nam Đế khởi từ năm Tân Mão, hết năm Nhâm Tuất, cả thảy ba mươi hai năm; tính gộp cả Tiền Nam Đế và Triệu Việt Vương là sáu mươi hai năm.15
Trong sử Việt, đó là một câu chuyện có đầu có cuối: một cái đầm, một cái mũ thần, một người con rể, một ông vua sợ giặc. Trong những bộ sử Trung Hoa đã mở, nó chỉ hiện ra ở hai đầu: cuộc đánh Lý Bí, và một cừ súy người Lý năm 602. Hai hồ sơ chỉ chạm nhau ở năm 602 — và ngay chỗ ấy, người chép sử Việt đã đổi mấy chữ.
Thời Vạn Xuân kết thúc ở đây. Tập sau: An Nam đô hộ phủ và cuộc nổi dậy Lý Tự Tiên – Đinh Kiến.
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Tùy thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Tùy thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tư trị thông giám
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tùy thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
An Nam chí lược
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn