Tập 5Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba
Chính sách hà khắc của Tiêu Tư
Tiêu Tư được nhớ như một viên thứ sử hà khắc. Nhưng các bộ sử cũ chép chuyện này không kể một việc làm cụ thể nào của ông ở Giao Châu: chỉ có hai chữ chê ở hai cuốn sách, còn dòng Lương thư chép về ông thì không chê chữ nào. Sử chép kỹ hơn về hai người sắp đứng lên chống ông.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tiêu đề tập này nói tới một "chính sách hà khắc". Vậy sử cũ chép chính sách ấy gồm những gì?
Câu trả lời ngắn tới mức đáng làm thành cả một tập. Lương thư, Trần thư, Nam sử, Tư trị thông giám, Việt sử lược, Toàn thư và Cương mục đều có nhắc tới Tiêu Tư. Không bộ nào kể một việc làm cụ thể nào của ông ở Giao Châu: không một thứ thuế, một đợt phu, một món cống.1
Thứ chúng để lại là hai chữ chê, ở hai cuốn sách. Tập này đi tìm đúng hai chữ ấy.2
Một người trong họ nhà vua
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tiêu Tư là người trong họ nhà Lương. Tư trị thông giám ghi ông là con Bà Dương vương Tiêu Khôi, em Lương Vũ Đế; tức là cháu gọi hoàng đế bằng bác.1 Lời chú của Cương mục ghi thêm tước của ông là Vũ Lâm hầu.3
Nam sử có một truyện riêng rất ngắn về ông, phụ sau truyện người anh là Tiêu Phạm: tên tự Thế Cung, làm tới Vệ uý khanh, rồi khi Hầu Cảnh chiếm giữ kinh đô thì bị người ta sai một kẻ thù của chính ông tới đâm chết. Giao Châu không xuất hiện trong truyện ấy lấy một chữ.4
Sách của chính nhà Lương không chê
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Chữ thứ nhất: vơ vét
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Lời chê đầu tiên nằm trong Trần thư, ở quyển đầu, quyển kể về Trần Bá Tiên. Câu văn mở bằng chữ "trước đó", như một lời kể lùi lại:
Trước đó, Vũ Lâm hầu Tiêu Tư làm thứ sử Giao Châu, vì vơ vét hà khắc mà mất lòng người.2
Chữ Trần thư dùng có nghĩa là vơ vét, bóc lột. Câu văn đi tiếp ngay sang Lý Bí, phần ấy để dành cho tập sau.2
Lương thư và Trần thư cùng do Diêu Tư Liêm soạn xong đầu đời Đường. Cùng một người: ở sách nhà Lương thì không chê, ở quyển về Trần Bá Tiên thì chê.6
Cũng trong Trần thư có một câu của chính Trần Bá Tiên, một người nhà Lương: Tội ở người tông thất, khiến mấy châu tiếm loạn, kéo dài đã nhiều năm.2 Người tông thất trong câu chuyện này là Tiêu Tư. Nhưng câu ấy chỉ nói ai có lỗi, không nói ông đã làm gì.
Chữ thứ hai: tàn bạo
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Khoảng năm trăm năm sau sự kiện, ở thế kỷ XI, Tư Mã Quang viết lại câu ấy trong Tư trị thông giám:
Gặp lúc thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tư vì hà khắc tàn bạo mà mất lòng người.1
Chữ "vơ vét" của Trần thư đã thành chữ "tàn bạo". Một chữ nói về của cải, một chữ nói về cách đối xử với người.1
Từ đây, sử Việt chép theo Thông giám. Đại Việt sử ký toàn thư ở thế kỷ XV chép câu này gần nguyên chữ, ở năm 541.8 Khâm định Việt sử thông giám cương mục ở thế kỷ XIX cũng trích lại đúng câu ấy.9
Toàn thư còn một câu tổng thuật ở đầu kỷ: Bấy giờ quan thú lệnh bạo ngược hà khắc, Lâm Ấp cướp phá biên giới. Nhưng câu ấy nói về quan lại nói chung, không nêu tên Tiêu Tư.10
Cụm chữ "tàn bạo, hà khắc" mà ta quen là lời dịch tiếng Việt của chính tầng Thông giám và Toàn thư này. Còn chữ "chính sách" thì không bộ nào có. Sử chép một lời nhận xét, không chép một việc làm.8
Cái nền của cả nước Lương
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Thông giám có chép tờ khải năm 545 của Hạ Sâm, một quan nhà Lương, than về quan lại địa phương:
Quận không chịu nổi sự kìm kẹp của châu, huyện không chịu nổi sự vơ vét của quận, cứ thế quấy nhiễu lẫn nhau, chỉ lo thu vét.11
Chữ "vơ vét" ở đây cùng gốc với chữ của Trần thư. Nhưng tờ khải viết sau việc ở Giao Châu bốn năm, và nói về cả nước Lương, không nhắc riêng Giao Châu.11
Cũng quyển ấy ghi: Giao Châu và Quảng Châu chỉ dùng vàng bạc làm tiền.12 Sử không nối chi tiết ấy với Tiêu Tư, nên ở đây cũng không.
Lý Bí: ba tầng xuất thân
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Người sắp đứng lên chống Tiêu Tư là Lý Bí. Thông giám giới thiệu ông trong một câu: Lý Bí ở Giao Chỉ, đời đời là hào tộc, làm quan không đắc chí.1
Thông giám cũng chép chức của ông lúc sự việc sắp nổ ra: giám Đức Châu. Toàn thư chép là giám Cửu Đức châu.8 Cương mục lại viết là giám quân Cửu Đức. Ba sách, ba cách ghi.13
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Toàn thư, ở lời tổng thuật đầu kỷ Tiền Lý, kể một gốc gác mà các sách Trung Hoa vừa dẫn không có:
Vua họ Lý, tên huý là Bí, người Thái Bình, Long Hưng. Tổ tiên là người phương Bắc, cuối đời Tây Hán khổ vì chinh chiến, tránh sang ở đất Nam, bảy đời thì thành người Nam. Vua có tài văn võ, ban đầu làm quan với nhà Lương, gặp loạn thì về Thái Bình.10
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tầng thứ ba là của triều Nguyễn, khoảng bốn trăm năm sau Toàn thư. Phần chú của Cương mục bác đúng cái địa danh ấy:
Sử cũ chép Lý Bí người Thái Bình, Long Hưng. Nay xét: Thái Bình đặt năm Vũ Đức thứ tư đời Đường, Long Hưng đặt từ đời Trần; thời Lương không có tên đất này. Sử cũ nhân đó mà gọi ngược lại.3
Quê trong Toàn thư, như vậy, được ghi bằng tên đất của những đời sau.3
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Ở thời của mình, Cương mục ghi rằng tại xã Tử Đường, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Bình, thuộc Nam Định, có đền thờ vua Bí.3
Tịnh Thiều: bị gạt vì cái họ
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Người thứ hai chỉ có trong Thông giám. Lương thư, Trần thư và bản kỷ Nam sử đi thẳng từ tên Lý Bí sang việc đánh Tiêu Tư, không nhắc tới người này.1
Có người tên Tịnh Thiều, giỏi văn chương, tới nơi tuyển bổ xin làm quan. Thượng thư bộ Lại cho rằng họ Tịnh không có bậc hiền nhân nào đời trước, chỉ cho làm chức môn lang ở cửa Quảng Dương. Thiều lấy làm nhục.1
Thông giám chép tiếp: Thiều bỏ về, cùng Lý Bí mưu việc dấy binh. Toàn thư chép lại chuyện này theo Thông giám.8
Hai người, và một chữ "gặp lúc"
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Đặt lại cạnh nhau, mạch kể của Thông giám có thứ tự rõ. Trước là một hào tộc làm quan không đắc chí. Rồi một người giỏi chữ bị chê vì cái họ. Câu về Tiêu Tư đến sau, và mở bằng chữ gặp lúc.1
Theo cách Thông giám dựng câu, sự hà khắc của viên thứ sử là cái dịp. Nỗi bất đắc chí của hai người kia thì đã có từ trước.
Sử cũ chép về Tiêu Tư chỉ có vậy: một dòng không chê, một chữ vơ vét, một chữ tàn bạo, không một việc làm nào. Thứ nó chép kỹ hơn là những người sắp đứng lên chống ông.
Tập sau: Khởi nghĩa Lý Bí, lập nước Vạn Xuân (541–544).
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Tư trị thông giám
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Trần thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Nam sử
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Lương thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Lương thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Nam sử
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tư trị thông giám
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Tư trị thông giám
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn