Tập 5Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai và thứ ba

Chính sách hà khắc của Tiêu Tư

Tiêu Tư được nhớ như một viên thứ sử hà khắc. Nhưng các bộ sử cũ chép chuyện này không kể một việc làm cụ thể nào của ông ở Giao Châu: chỉ có hai chữ chê ở hai cuốn sách, còn dòng Lương thư chép về ông thì không chê chữ nào. Sử chép kỹ hơn về hai người sắp đứng lên chống ông.

2 lớp · 13 nguồn · Giọng đọc AI

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tiêu đề tập này nói tới một "chính sách hà khắc". Vậy sử cũ chép chính sách ấy gồm những gì?

Câu trả lời ngắn tới mức đáng làm thành cả một tập. Lương thư, Trần thư, Nam sử, Tư trị thông giám, Việt sử lược, Toàn thư và Cương mục đều có nhắc tới . Không bộ nào kể một việc làm cụ thể nào của ông ở : không một thứ thuế, một đợt phu, một món cống.1

Thứ chúng để lại là hai chữ chê, ở hai cuốn sách. Tập này đi tìm đúng hai chữ ấy.2

Một người trong họ nhà vua

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tiêu Tư là người trong họ nhà Lương. Tư trị thông giám ghi ông là con Bà Dương vương Tiêu Khôi, em Lương Vũ Đế; tức là cháu gọi hoàng đế bằng bác.1 Lời chú của Cương mục ghi thêm tước của ông là Vũ Lâm hầu.3

có một truyện riêng rất ngắn về ông, phụ sau truyện người anh là Tiêu Phạm: tên tự Thế Cung, làm tới Vệ uý khanh, rồi khi Hầu Cảnh chiếm giữ kinh đô thì bị người ta sai một kẻ thù của chính ông tới đâm chết. Giao Châu không xuất hiện trong truyện ấy lấy một chữ.4

Truyện của người cha trong không nhắc tới ông.5

Sách của chính nhà Lương không chê

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Lương thư, bộ chính sử của nhà Lương, chép việc ở Giao Châu năm 541 trong một dòng: Lý Bí đánh, Tiêu Tư đút lót rồi được trở về. Dòng ấy không có chữ nào nói Tiêu Tư cai trị ra sao.6

Nam sử chép còn gọn hơn: Người Giao Châu là Lý Bí đánh thứ sử Tiêu Tư.7 Cũng không một chữ chê.

Chữ thứ nhất: vơ vét

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Lời chê đầu tiên nằm trong , ở quyển đầu, quyển kể về . Câu văn mở bằng chữ "trước đó", như một lời kể lùi lại:

Trước đó, Vũ Lâm hầu Tiêu Tư làm thứ sử Giao Châu, vì vơ vét hà khắc mà mất lòng người.2

Chữ Trần thư dùng có nghĩa là vơ vét, bóc lột. Câu văn đi tiếp ngay sang Lý Bí, phần ấy để dành cho tập sau.2

Lương thư và Trần thư cùng do Diêu Tư Liêm soạn xong đầu đời Đường. Cùng một người: ở sách nhà Lương thì không chê, ở quyển về Trần Bá Tiên thì chê.6

Cũng trong Trần thư có một câu của chính Trần Bá Tiên, một người nhà Lương: Tội ở người tông thất, khiến mấy châu tiếm loạn, kéo dài đã nhiều năm.2 Người tông thất trong câu chuyện này là Tiêu Tư. Nhưng câu ấy chỉ nói ai có lỗi, không nói ông đã làm gì.

Chữ thứ hai: tàn bạo

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Khoảng năm trăm năm sau sự kiện, ở thế kỷ XI, Tư Mã Quang viết lại câu ấy trong :

Gặp lúc thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tư vì hà khắc tàn bạo mà mất lòng người.1

Chữ "vơ vét" của Trần thư đã thành chữ "tàn bạo". Một chữ nói về của cải, một chữ nói về cách đối xử với người.1

Từ đây, sử Việt chép theo Thông giám. ở thế kỷ XV chép câu này gần nguyên chữ, ở năm 541.8 ở thế kỷ XIX cũng trích lại đúng câu ấy.9

Toàn thư còn một câu tổng thuật ở đầu kỷ: Bấy giờ quan thú lệnh bạo ngược hà khắc, Lâm Ấp cướp phá biên giới. Nhưng câu ấy nói về quan lại nói chung, không nêu tên Tiêu Tư.10

Cụm chữ "tàn bạo, hà khắc" mà ta quen là lời dịch tiếng Việt của chính tầng Thông giám và Toàn thư này. Còn chữ "chính sách" thì không bộ nào có. Sử chép một lời nhận xét, không chép một việc làm.8

Cái nền của cả nước Lương

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Thông giám có chép tờ khải năm 545 của Hạ Sâm, một quan nhà Lương, than về quan lại địa phương:

Quận không chịu nổi sự kìm kẹp của châu, huyện không chịu nổi sự vơ vét của quận, cứ thế quấy nhiễu lẫn nhau, chỉ lo thu vét.11

Chữ "vơ vét" ở đây cùng gốc với chữ của Trần thư. Nhưng tờ khải viết sau việc ở Giao Châu bốn năm, và nói về cả nước Lương, không nhắc riêng Giao Châu.11

Cũng quyển ấy ghi: Giao Châu và Quảng Châu chỉ dùng vàng bạc làm tiền.12 Sử không nối chi tiết ấy với Tiêu Tư, nên ở đây cũng không.

Lý Bí: ba tầng xuất thân

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Người sắp đứng lên chống Tiêu Tư là . Thông giám giới thiệu ông trong một câu: Lý Bí ở Giao Chỉ, đời đời là hào tộc, làm quan không đắc chí.1

Thông giám cũng chép chức của ông lúc sự việc sắp nổ ra: giám Đức Châu. Toàn thư chép là giám Cửu Đức châu.8 Cương mục lại viết là giám quân Cửu Đức. Ba sách, ba cách ghi.13

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Toàn thư, ở lời tổng thuật đầu kỷ Tiền Lý, kể một gốc gác mà các sách Trung Hoa vừa dẫn không có:

Vua họ Lý, tên huý là Bí, người Thái Bình, Long Hưng. Tổ tiên là người phương Bắc, cuối đời Tây Hán khổ vì chinh chiến, tránh sang ở đất Nam, bảy đời thì thành người Nam. Vua có tài văn võ, ban đầu làm quan với nhà Lương, gặp loạn thì về Thái Bình.10

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tầng thứ ba là của triều Nguyễn, khoảng bốn trăm năm sau Toàn thư. Phần chú của Cương mục bác đúng cái địa danh ấy:

Sử cũ chép Lý Bí người Thái Bình, Long Hưng. Nay xét: Thái Bình đặt năm Vũ Đức thứ tư đời Đường, Long Hưng đặt từ đời Trần; thời Lương không có tên đất này. Sử cũ nhân đó mà gọi ngược lại.3

Quê trong Toàn thư, như vậy, được ghi bằng tên đất của những đời sau.3

Đời sau nhớ lại

Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.

Ở thời của mình, Cương mục ghi rằng tại xã Tử Đường, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Bình, thuộc Nam Định, có đền thờ vua Bí.3

Tịnh Thiều: bị gạt vì cái họ

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Người thứ hai chỉ có trong Thông giám. Lương thư, Trần thư và bản kỷ Nam sử đi thẳng từ tên Lý Bí sang việc đánh Tiêu Tư, không nhắc tới người này.1

Có người tên , giỏi văn chương, tới nơi tuyển bổ xin làm quan. Thượng thư bộ Lại cho rằng họ Tịnh không có bậc hiền nhân nào đời trước, chỉ cho làm chức môn lang ở cửa Quảng Dương. Thiều lấy làm nhục.1

Thông giám chép tiếp: Thiều bỏ về, cùng Lý Bí mưu việc dấy binh. Toàn thư chép lại chuyện này theo Thông giám.8

Hai người, và một chữ "gặp lúc"

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Đặt lại cạnh nhau, mạch kể của Thông giám có thứ tự rõ. Trước là một hào tộc làm quan không đắc chí. Rồi một người giỏi chữ bị chê vì cái họ. Câu về Tiêu Tư đến sau, và mở bằng chữ gặp lúc.1

Theo cách Thông giám dựng câu, sự hà khắc của viên thứ sử là cái dịp. Nỗi bất đắc chí của hai người kia thì đã có từ trước.

Sử cũ chép về Tiêu Tư chỉ có vậy: một dòng không chê, một chữ vơ vét, một chữ tàn bạo, không một việc làm nào. Thứ nó chép kỹ hơn là những người sắp đứng lên chống ông.

Tập sau: Khởi nghĩa Lý Bí, lập nước Vạn Xuân (541–544).

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Tư trị thông giám

    Bộ sử biên niên của Tư Mã Quang đời Tống, chép liền mạch các triều Trung Hoa; nhiều câu về Giao Châu thời Lương mà sử Việt đời Lê chép lại gần nguyên chữ. · quyển 158, Lương kỷ 14, năm Đại Đồng thứ bảy — chính văn, bản không kèm chú Hồ Tam Tỉnh

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  2. Trần thư

    Bộ chính sử nhà Trần ở Nam triều do Diêu Tư Liêm soạn đầu đời Đường; bản kỷ Trần Bá Tiên là nơi kể chi tiết nhất các cuộc hành quân của nhà Lương sang Giao Châu. · quyển 1, Cao Tổ kỷ thượng — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  3. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4 — phần chú của sử thần triều Nguyễn

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  4. Nam sử

    Bộ sử gộp các triều Nam triều từ Tống tới Trần do Lý Diên Thọ soạn đời Đường; phần lớn rút gọn từ các bộ sử riêng của từng triều, đôi chỗ thêm một chi tiết. · quyển 52, Lương tông thất hạ, truyện Tiêu Tư phụ sau truyện Tiêu Phạm — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  5. Lương thư

    Bộ chính sử nhà Lương do Diêu Tư Liêm soạn đầu đời Đường; phần bản kỷ Lương Vũ Đế ghi năm tháng các việc ở Giao Châu, từng dòng rất ngắn. · quyển 22, Thái Tổ ngũ vương truyện, truyện Bà Dương vương Tiêu Khôi — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  6. Lương thư

    Bộ chính sử nhà Lương do Diêu Tư Liêm soạn đầu đời Đường; phần bản kỷ Lương Vũ Đế ghi năm tháng các việc ở Giao Châu, từng dòng rất ngắn. · quyển 3, Vũ Đế kỷ hạ, năm Đại Đồng thứ bảy — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  7. Nam sử

    Bộ sử gộp các triều Nam triều từ Tống tới Trần do Lý Diên Thọ soạn đời Đường; phần lớn rút gọn từ các bộ sử riêng của từng triều, đôi chỗ thêm một chi tiết. · quyển 7, Lương bản kỷ trung — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  8. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Kỷ Tiền Lý, tờ 15a, năm Tân Dậu 541 — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  9. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4, năm Tân Dậu — đoạn trích Thông giám trong phần chú

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  10. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Kỷ Tiền Lý, tờ 14b — lời tổng thuật đầu kỷ, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  11. Tư trị thông giám

    Bộ sử biên niên của Tư Mã Quang đời Tống, chép liền mạch các triều Trung Hoa; nhiều câu về Giao Châu thời Lương mà sử Việt đời Lê chép lại gần nguyên chữ. · quyển 159, Lương kỷ 15, tờ khải của Hạ Sâm năm 545 — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  12. Tư trị thông giám

    Bộ sử biên niên của Tư Mã Quang đời Tống, chép liền mạch các triều Trung Hoa; nhiều câu về Giao Châu thời Lương mà sử Việt đời Lê chép lại gần nguyên chữ. · quyển 159, Lương kỷ 15 — chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  13. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 4, năm Tân Dậu — phần cương và mục

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn