Tập 2Thời kỳ Hồng Bàng và Văn Lang

Kinh Dương Vương và dòng dõi Thần Nông

Sử cũ dựng cho tổ tiên người Việt một gia phả nối lên tới vua Thần Nông bên Trung Hoa. Gia phả ấy lấy chất liệu từ đâu, và vì sao chính triều Nguyễn về sau gạch nó khỏi quốc sử.

2 lớp · 7 nguồn · Giọng đọc AI

Truyền thuyết kể

Chuyện truyền miệng, về sau được chép vào sách — không phải sự kiện đã kiểm chứng.

Truyền thuyết kể ở tập trước dừng lại ở chỗ Lạc Long Quân chia tay Âu Cơ. Nhưng trước Lạc Long Quân còn có cha, trước người cha ấy còn có cả một gia phả, và gia phả ấy không dừng ở đất Việt. Nó đi ngược lên phương Bắc, tới một vị vua trong thần thoại Trung Hoa.

Theo sử cũ, dòng dõi ấy thế này. Vua Thần Nông sinh ra nhiều đời. Đến đời , cháu ba đời của , nhà vua đi tuần xuống phương Nam, tới núi Ngũ Lĩnh thì gặp một nàng tiên, lấy nhau, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục có đức thánh. Đế Minh muốn truyền ngôi cho con út, nhưng Lộc Tục nhường lại cho anh là . Thế là Đế Nghi cai quản phương Bắc, còn Lộc Tục được phong làm , cai quản phương Nam, đặt tên nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân, sinh ra .1

Nghe qua thì đây là một gia phả mạch lạc. Nhưng đọc kỹ từng cái tên trong đó, ta gặp một chuyện khác.

Thần Nông là thần của ai

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Sử cũ chép Thần Nông như tổ tiên xa của người Việt. Nhưng Thần Nông là nhân vật của thần thoại Trung Hoa, và sách Trung Hoa chép về ông từ rất sớm.

, bộ sách soạn dưới thời Tây Hán và dâng lên vua khoảng năm 139 trước Công nguyên, kể rằng thời xưa dân ăn cỏ uống nước, hái quả cây, ăn thịt ốc trai, nên lắm bệnh tật và trúng độc. Thần Nông bèn dạy dân gieo trồng năm giống lúa, xem đất nào hợp với cây nào, rồi tự mình nếm mùi vị của trăm loại cỏ và nước suối, để dân biết thứ nào nên tránh. Sách viết thêm một câu đáng nhớ: có ngày ông trúng độc bảy mươi lần.2

Đó là gốc của tích "Thần Nông nếm trăm cỏ" mà đến giờ người Việt vẫn nhắc. Nó được viết bằng chữ Hán, trong một cuốn sách Trung Hoa, trước khi có bất kỳ cuốn sử Việt Nam nào.

Hai cái tên có thật, nhưng lắp sai chỗ

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Sử cũ còn mượn thêm hai cái tên nữa, và đây mới là chỗ thú vị.

Một bộ sách Trung Hoa đời Tấn là có chép phả hệ dòng Viêm Đế Thần Nông. Bản gốc sách này đã mất, nhưng đoạn phả hệ còn được chép lại trong một bộ sách lớn đời Tống. Theo đó, sau Viêm Đế là tám đời nối nhau: Đế Thừa, Đế Lâm, Đế Minh, Đế Trực, Đế Lai, Đế Ai, Đế Du Võng.3

Trong danh sách ấy có Đế Minh, và có Đế Lai — đúng hai cái tên mà sử Việt dùng. Nhưng cách sắp xếp thì khác hẳn.

Ở sách Trung Hoa, đây là tám đời nối ngôi nhau trong một dòng duy nhất. Đế Minh và Đế Lai cách nhau hai đời, ở giữa còn Đế Trực.

Ở sử Việt, Đế Minh có hai con: một người cai quản phương Bắc, một người xuống phương Nam. Đế Lai thành cháu nội. Còn Đế Nghi, người anh nhường ngôi kia, thì không hề có trong danh sách gốc.

Nói cách khác, sử cũ lấy đúng những cái tên có thật trong một phả hệ Trung Hoa, rồi xếp lại thành một cấu trúc gia đình khác, bỏ qua người ở giữa và thêm vào một người mới. Cái khung "anh giữ phương Bắc, em giữ phương Nam" — vốn là khung đẹp nhất của câu chuyện, vì nó khiến người Việt thành ngang hàng chứ không phải chư hầu — lại chính là phần không có trong bản gốc.

Một nghìn một trăm cây số

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Còn một chi tiết nữa trong gia phả ấy, lâu nay ít ai dừng lại: Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân.1

là hồ có thật, nằm ở phía bắc tỉnh Hồ Nam của Trung Quốc. Tên tỉnh Hồ Nam nghĩa đen là "phía nam của hồ" — chính cái hồ này là mốc để đặt tên tỉnh.

Từ hồ Động Đình xuống Việt Trì, nơi truyền thuyết đặt kinh đô Văn Lang, là hơn một nghìn một trăm cây số đường chim bay, băng qua toàn bộ vùng núi Quảng Tây và Quảng Đông. Với một cộng đồng thời đại đồ đồng, đó không phải khoảng cách để thông gia.

Chỗ Ngô Sĩ Liên tự khai ra

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Điều đáng nói nhất là người chép sử không hề giấu nguồn. Ông ghi thẳng ra.

Khi chép câu "Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân", chua thêm một đoạn: xét sách sử đời Đường chép rằng thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của họ Kinh Xuyên, bị ruồng bỏ, phải nhờ một người tên Liễu Nghị mang thư về tâu với cha. Rồi ông kết luận: thế thì họ Kinh Xuyên và họ Động Đình đời đời thông gia với nhau đã từ lâu rồi.1

Ông dẫn tích ấy ra để củng cố cho câu chuyện, coi đó là bằng chứng.

Nhưng cái tích ông dẫn không phải sử. Đó là , một truyện truyền kỳ đời Đường, tức tiểu thuyết. Cuối truyện, tác giả tự ghi tên mình là Lý Triều Uy. Nội dung là chuyện tình thần tiên: chàng nho sinh thi trượt gặp người đàn bà chăn dê bên đường, nàng nhờ mang thư xuống thuỷ cung, vua rồng đọc thư khóc thương con, người em vua rồng nổi giận hoá rồng đỏ bay đi giết kẻ bạc tình, rồi cuối cùng nàng long nữ đầu thai làm người để lấy chàng.4

Một câu chuyện như thế được đưa vào quốc sử làm chứng cứ cho gốc gác dân tộc.

Người đầu tiên nói thẳng là một sử gia thời Lê

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Ba trăm năm sau, có người nhìn ra chỗ đó.

, sử gia thế kỷ 18 — xin nói rõ đây là người khác với Ngô Sĩ Liên, hai người cách nhau ba thế kỷ — viết trong bộ rằng cả đoạn phả hệ ấy là hoang đường càn rỡ, đáng bỏ đi. Rồi ông chỉ đích danh cơ chế của sự nhầm lẫn: lỗi ấy là tại kẻ hiếu sự đọc truyện Liễu Nghị, thấy trong truyện nói con gái vua Động Đình gả cho con thứ của Kinh Xuyên, bèn tưởng càn Kinh Xuyên chính là Kinh Dương. Đã có vợ chồng thì phải có cha con, vua tôi, nhân đó mà thêu dệt thành văn cho đủ số đời vua, rồi nhà chép sử theo đó mà dùng, lại tưởng là sự thật.5

Ông cũng đặt một câu hỏi mà tới nay chưa ai trả lời gọn được: Xích Quỷ là tên gì, mà lại đem làm tên nước?5

Hai cái tên Kinh Xuyên và Kinh Dương chỉ khác nhau một chữ. Cả hai đều là địa danh Trung Hoa, gắn với con sông Kinh bên Thiểm Tây. Một chữ trượt đi, và một vị vua thuỷ tổ ra đời.

Quốc sử triều Nguyễn gạch tên

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Đến giữa thế kỷ 19, việc này không còn là ý kiến riêng của một người nữa, mà thành quyết định của triều đình.

Quốc sử quán triều Nguyễn soạn bộ . Ngay phần phàm lệ, tức phần nói rõ nguyên tắc biên soạn, các sử thần viết: sử cũ chép quốc thống bắt đầu từ Kinh Dương, việc thuộc mờ mịt, thực không có bằng chứng xác thực. Nay vâng sắc dụ, đặc biệt bắt đầu từ kỷ Hùng Vương để tỏ chỗ khởi đầu của chính thống; còn hai kỷ Kinh Dương và Lạc Long thì chia xuống làm chú ở dưới, vẫn chép sơ lược, cho hợp cái nghĩa nghi thì truyền nghi.6

Nói gọn lại: Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân bị đưa ra khỏi dòng chính của quốc sử, hạ xuống thành chú thích. Đó là văn bản chính thức của triều đình nhà Nguyễn, không phải ý kiến của một học giả nước ngoài nào.

Và không chỉ triều đình. Năm 1920, khi ra đời và trở thành bộ sử phổ thông được đọc nhiều nhất, Trần Trọng Kim mở đầu chương Hồng Bàng bằng ba chữ "cứ theo tục truyền", tức theo lời truyền miệng. Ông chép con số 2879 trước Công nguyên rồi tự đặt ngay sau đó một dấu hỏi. Đến đoạn nói về đất Bách Việt, ông viết thẳng: đấy cũng là một điều nói phỏng, chứ không lấy gì làm đích xác được.7

Vậy nên nhớ điều gì

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Sử cũ để lại một gia phả đẹp, nối người Việt lên tới một vị vua thần thoại và đặt ta ngang hàng với phương Bắc ngay từ buổi đầu. Gia phả ấy được dựng bằng những cái tên có thật trong sách Trung Hoa, lắp lại theo một trật tự mới, và được chống đỡ bằng một cuốn tiểu thuyết đời Đường.

Điều đáng nói không phải là chuyện ấy không có thật. Điều đáng nói là người Việt đã tự biết điều đó từ lâu rồi. Một sử gia thế kỷ 18 vạch ra cơ chế.5 Quốc sử triều Nguyễn thế kỷ 19 gạch tên khỏi chính sử.6 Một học giả năm 1920 đặt dấu hỏi ngay giữa trang sách.7 Ba lần, trong ba trăm năm, trước khi có bất kỳ cuộc tranh luận nào của giới nghiên cứu ngày nay.

Chúng ta thừa hưởng một truyền thuyết, và thừa hưởng luôn cả truyền thống hoài nghi nó.

Tập sau nói về phần mà chính các sử thần triều Nguyễn giữ lại làm khởi đầu chính thống: mười tám đời Hùng Vương và nước Văn Lang.

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 1, tờ 1b

    Dùng cho: Truyền thuyết kểDùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  2. Hoài Nam Tử

    Sách đời Tây Hán, chứa bản chép sớm về tích Thần Nông nếm trăm loại cỏ. · thiên Tu Vụ Huấn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  3. Đế Vương thế kỷ

    Sách phả hệ đế vương đời Tấn, chép tám đời nối dòng Viêm Đế Thần Nông, trong đó có Đế Minh và Đế Lai. · dẫn lại trong Thái Bình ngự lãm quyển 78

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  4. Liễu Nghị truyện

    Truyện truyền kỳ đời Đường về chàng nho sinh mang thư cho con gái vua rồng hồ Động Đình; sử Việt từng dẫn nó làm chứng cứ.

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  5. Đại Việt sử ký tiền biên

    Bộ sử của Ngô Thì Sĩ, nơi ông chỉ ra phả hệ Kinh Dương Vương bắt nguồn từ việc đọc nhầm truyện Liễu Nghị.

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  6. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · phần phàm lệ

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  7. Việt Nam sử lược

    Bộ sử phổ thông bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên được đọc rộng rãi; tác giả tự đặt dấu hỏi sau niên đại 2879 trước Công nguyên. · quyển 1, chương Hồng Bàng

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn