Tập 3Thời kỳ Nam Việt
Nhà Triệu: chính thống hay ngoại xâm
Chính bộ quốc sử xếp Triệu Đà vào dòng vua nước Việt cũng ghi ông là người Chân Định nước Hán. Cuộc tranh luận nhiều thế kỷ sau đó không xoay quanh chuyện ông từ đâu tới, mà xoay quanh chuyện lấy gì làm thước đo — và có lúc nó nằm gọn trong một cái tên bị lấy ra khỏi một câu.
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Tập trước để lại một câu hỏi: một người phương Bắc lập một nước ở phương Nam thì với sử Việt, ông là vua khai quốc hay là kẻ xâm lược?
Có một cách trả lời dễ dãi: người xưa không biết Triệu Đà là người phương Bắc, nên mới tôn ông. Cách ấy sai ngay từ dòng đầu. Mở kỷ nhà Triệu trong Đại Việt sử ký toàn thư, dòng giới thiệu nhà vua chép: họ Triệu, tên huý là Đà, người Chân Định nước Hán.1
Bộ sử biết rõ, và vẫn xếp ông vào dòng vua nước Việt. Cho nên cuộc tranh luận về sau không phải chuyện ai phát hiện ra gốc gác của ông. Nó là chuyện lấy cái gì làm thước đo. Tập này đi qua từng người đã cầm thước, theo thứ tự thời gian.
Lê Văn Hưu: chỉ nhìn vào đức
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Người cầm thước sớm nhất còn để lại dấu vết là Lê Văn Hưu, sử quan đời Trần, thế kỷ XIII. Bộ sử của ông đã mất, nhưng lời tựa phần Ngoại kỷ của Toàn thư cho biết nó được soạn từ Triệu Vũ Đế trở xuống.2 Nó không mở bằng Hùng Vương, cũng không mở bằng An Dương Vương. Nó mở bằng Triệu Đà.
Thứ còn lại của Lê Văn Hưu là những lời bàn mà Toàn thư chép lại. Lời bàn về Triệu Đà mở bằng bốn tấm gương về người ngoài làm nên việc lớn:
Liêu Đông không có Cơ Tử thì không thành được tục mặc áo đội mũ; Ngô Cối không có Thái Bá thì không vươn lên được sức mạnh của bậc vương bá. Vua Thuấn là người Đông Di mà là vua giỏi trong Ngũ Đế; Văn Vương là người Tây Di mà là vua hiền trong Tam Đại.3
Rồi ông rút ra thước đo:
Thế mới biết người khéo trị nước không kể đất rộng hay hẹp, người Hoa hay người Di, chỉ nhìn vào đức mà thôi.3
Đặt thước ấy lên Triệu Đà, ông viết rằng Triệu Vũ Đế mở mang nước Việt ta mà tự làm đế, chống ngang với nhà Hán, viết thư tự xưng là lão phu, mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể gọi là lớn.3
Để ý cách lập luận. Nếu Triệu Đà là người Việt thì chẳng cần mượn tới vua Thuấn người Đông Di hay Văn Vương người Tây Di. Lê Văn Hưu thừa nhận gốc gác ấy, rồi đổi thước đo: Hoa hay Di không tính, chỉ đức mới tính.
Một khuôn mẫu cho vua đời sau
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Lời bàn không dừng ở chữ "công ấy lớn". Vế tiếp theo cho biết ông khen Triệu Đà để làm gì:
Người làm đế nước Việt đời sau nếu biết noi theo Triệu Vũ, giữ vững bờ cõi, đặt ra việc quân việc nước, giao thiệp với láng giềng có đạo, giữ ngôi bằng lòng nhân, thì giữ được đất đai lâu dài — và câu văn chuyển ngay sang người phương Bắc.3
Với Lê Văn Hưu, Triệu Đà không chỉ là một cái tên trong danh sách vua. Ông là khuôn mẫu: một người làm đế ở phương Nam, đứng ngang hàng với phương Bắc. Lời bàn viết ra để vua Việt đời sau đọc và bắt chước.
Toàn thư khoá dòng quốc thống
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Toàn thư nhận lại cách xếp ấy. Cần nói trước để khỏi nhầm: trong bản Toàn thư còn lại, nhà Triệu không nằm ở Bản kỷ. Nó nằm ở Ngoại kỷ, quyển hai, ngay sau An Dương Vương; Bản kỷ bắt đầu từ nhà Đinh.1 Dấu hiệu tôn nhà Triệu phải tìm ở chỗ khác, và nó không khó tìm.
Nhà Triệu có một kỷ riêng dài ba mươi lăm tờ, dài hơn kỷ Hồng Bàng và kỷ nhà Thục cộng lại. Triệu Đà được gọi là Vũ Đế. Năm được đánh số theo năm trị vì của vua Triệu, còn năm thứ ba đời Tần Nhị Thế chỉ là dòng chú đối chiếu. Chỉ khi nhà Triệu mất, bộ sử mới chuyển sang kỷ thuộc Tây Hán.1 Trước đó, Việt sử lược cũng đã dành cho nhà Triệu một kỷ riêng và gọi Triệu Đà là Vũ Đế.4
Lời tuyên bố rõ nhất nằm ở phàm lệ, phần thể lệ đặt đầu bộ sách. Ở điều khoản về Ngô Vương, phàm lệ viết:
Chép bắt đầu từ Ngô Vương là vì vương là người nước Việt ta, đương lúc Nam Bắc phân tranh mà dẹp được loạn, dựng lại nước, để nối thống của Hùng Vương và Triệu Vũ.5
Hùng Vương, Triệu Vũ: hai cái tên đứng liền nhau trong một dòng chính thống. Và khi mở sang Bản kỷ, dòng giới thiệu Đinh Tiên Hoàng khen ông quét sạch các hùng trưởng, nối thống của Triệu Vũ.6 Hãy nhớ câu này. Ta sẽ gặp lại nó, với một cái tên khác.
Ngô Sĩ Liên và Lê Tung: khen, nhưng có chỗ gợn
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Ngô Sĩ Liên bàn theo đúng hướng Lê Văn Hưu. Ông mở lời bàn bằng một câu kinh điển: có đức lớn thì ắt được ngôi, ắt được danh, ắt được thọ, rồi bảo Vũ Đế được như thế cũng chỉ vì có đức. Cuối kỷ, ông còn gọi Ngũ Lĩnh là chỗ hiểm yếu, là cửa ngõ của nước Việt ta, và viết rằng các triều Đinh, Lê, Lý, Trần về sau không lấy lại được đất cũ của Triệu Vũ Đế.7
Chỗ gợn đến từ Lê Tung, trong bài tổng luận năm 1514 in ở đầu Toàn thư. Ông khen Triệu Vũ Đế cùng Hán Cao Tổ mỗi người làm đế một phương, có lòng nhân thương dân, có mưu trí giữ nước. Nhưng tới đoạn tổng kết, cũng chính ông viết rằng Triệu Vũ Đế sai Trọng Thuỷ mượn việc cưới con gái An Dương Vương, lấy trộm móng rùa rồi đánh lấy nước — thế thì kế của Triệu Vũ Đế là hiểm.8
Vừa gọi là vua ta, vừa gọi cách ông lấy nước ta là mưu hiểm. Mầm của cuộc tranh luận nằm sẵn ngay trong phe tôn nhà Triệu.
Ngô Thì Sĩ: hai chữ Việt không phải một
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Tiếng bác thẳng thừng đến vào thế kỷ XVIII, từ Ngô Thì Sĩ, trong tập khảo luận Việt sử tiêu án soạn năm 1775. Đoạn bác đặt ở cuối phần An Dương Vương, đúng chỗ sử cũ trao quốc thống sang nhà Triệu. Ông nhắm vào việc sử cũ chép to bốn chữ "Triệu kỷ Vũ Đế" mà người đời sau cứ theo, không biết là sai.9
Thước đo của ông không phải đức, mà là đất, và sự cai trị thật. Câu then chốt, theo bản dịch năm 1960:
Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là Đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.9
Tức là có hai chữ Việt, và phải đánh đồng chúng thì vua Nam Việt mới thành vua nước ta. Theo ông, Triệu Đà lập nước ở Phiên Ngung, gồm nước ta vào làm quận thuộc, đặt người coi giữ để ràng buộc dân, và chưa từng đến ở nước ta. Ông so sánh: Triệu Đà gồm Giao Châu cũng như nước Nguỵ gồm nước Thục, mà sử nước Thục có đem Nguỵ nối vào sau Lưu Thiện đâu.9
Đề nghị của ông cụ thể như một điều lệ biên soạn: xếp nhà Triệu theo lệ ngoại thuộc. Mục kế tiếp trong sách không mang tên kỷ nhà Triệu, mà mang tên Triệu Đà tự lập làm vua Nam Việt.9
Triều Nguyễn: hạ cấp bằng ngòi bút chép sử
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Các sử quan triều Nguyễn, khi soạn Khâm định Việt sử thông giám cương mục ở nửa sau thế kỷ XIX, không cần viết luận. Họ sửa thể lệ chép sử.
Một điều khoản phàm lệ kể tên An Dương Vương, Triệu Vũ Vương, các vua nối đời nhà Triệu, cùng hai vua họ Lý trước và sau, Triệu Việt Vương, Nam Tấn Vương Xương Văn, rồi phán: đều không phải chính thống. Sử cũ chép họ bằng chữ lớn; nay theo lệ liệt quốc, chép thành chú chữ nhỏ. Xưng đế xưng vương thì cứ theo sử cũ, chỉ riêng khi chết thì chép là hoăng, để phân biệt với chính thống.10
Ba nhát bút trong một điều khoản. Chữ Đế hạ thành Vương. Chữ lớn hạ thành chữ nhỏ. Cái chết lẽ ra chép là băng như của hoàng đế, nay chép là hoăng, chữ dành cho chư hầu. Không cần một câu chê nào.
Danh sách ấy cho thấy thước đo của Cương mục không chỉ là gốc gác: An Dương Vương cũng nằm trong đó. Còn lý do phàm lệ nêu cho người được đặt lên đầu dòng chính là việc thống nhất thiên hạ.10 Mục lục xếp nhà Triệu vào Tiền biên, quyển một chạy từ Hùng Vương tới hết năm đầu Triệu Ai Vương.11
Cùng một chỗ đứng, đổi một cái tên
Sử cũ chép
Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.
Toàn thư, ở đầu Bản kỷ, giới thiệu Đinh Tiên Hoàng là người nối thống của Triệu Vũ;6 ở phàm lệ, dòng chính đi từ Hùng Vương và Triệu Vũ.5
Cương mục, ở đúng chỗ tương ứng — điều khoản phàm lệ đặt Đinh Tiên Hoàng lên đầu Chính biên — viết: Đinh Tiên Hoàng dẹp các sứ quân, thống nhất thiên hạ, thực có thể nối lên được thống của Hùng Vương.10
Hùng Vương vẫn còn. Triệu Vũ biến mất.
Lý do đã nằm ở điều khoản kia: đều không phải chính thống. Ở điều khoản này, hai chữ Triệu Vũ đơn giản là không có mặt. Phán quyết của triều Nguyễn gói gọn trong một cái tên bị lấy ra khỏi câu.
Trần Trọng Kim: giữ lại, nhưng gọi là Vương
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Sang thế kỷ XX, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, bộ sử chữ quốc ngữ in năm 1920, đứng giữa hai lối.
Ông vẫn giữ nhà Triệu trong sử nước ta: chương bốn của phần Thượng cổ thời đại mang tên Nhà Triệu, từ năm 207 tới năm 111 trước Công nguyên, dài đúng sáu trang. Phần Bắc thuộc thời đại mở ngay sau, từ năm 111 trước Công nguyên, tức từ lúc nhà Hán diệt Nam Việt. Nhưng cách gọi thì ông theo Cương mục: Triệu Đà tự xưng làm vua, tức là Vũ vương.12
Ông giữ, nhưng giữ ít. Và chính sáu trang ấy sắp bị đem ra mỉa.
Phan Khôi, năm 1936: bỏ hẳn ra ngoài
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Tháng tám năm 1936, trên số ba báo Sông Hương ở Huế, Phan Khôi đăng bài Hãy bỏ Triệu Đà và dòng dõi y ra ngoài Việt sử, phụ đề: phá một cái lầm từ Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên cho đến Trần Trọng Kim.13
Thước đo của ông khác cả cái đức của Lê Văn Hưu lẫn cái đất của Ngô Thì Sĩ. Ông viết: quốc sử phải lấy dân tộc làm nền. Theo ông, nước ta khi ấy nên kể là đã mất vào tay Triệu Đà, còn cái nước Nam Việt của Triệu Đà mới dựng ở bên Quảng Đông thật không phải là nước ta. Nước ta đằng nào cũng Bắc thuộc hơn một nghìn năm, vậy thì tiếc gì mà chẳng cho nó Bắc thuộc sớm đi, thêm lên chín mươi sáu năm nữa, kể ngay từ lúc Âu Lạc vào tay họ Triệu.13
Ông chỉ đích danh Trần Trọng Kim: trong Việt Nam sử lược, việc hưng vong của nhà Triệu còn choán mất đến sáu trang.13 Con số ấy đúng; mở bản in năm 1920, chương Nhà Triệu chiếm vừa sáu trang.12
Chỗ Phan Khôi xếp nhầm người
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Bài báo có một chỗ nhầm, và nên nói thẳng chứ không sửa hộ ông. Kể tên những người đã tôn Triệu Đà, Phan Khôi viết: bọn các ông Lê Văn Hưu, Võ Quỳnh, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thời Sĩ cho đến ông Trần Trọng Kim hiện giờ nữa, đều xưng cho là Vương, là Đế.13
Ngô Thời Sĩ chính là Ngô Thì Sĩ, người mà trong Việt sử tiêu án đã bác việc tôn nhà Triệu và đòi xếp nó theo lệ ngoại thuộc.9 Phan Khôi đã đặt một người có lập trường gần với mình sang phe đối diện. Bài báo không cho biết vì sao.
Bài báo cũng không đứng một mình. Báo Tin văn ở Hà Nội phản đối, và trong bài trả lời trên số chín, Phan Khôi thuật lại hai lý lẽ của họ: nếu bỏ Triệu Đà thì cũng không nên kể một nghìn năm Bắc thuộc, cả cuộc bảo hộ của người Pháp nữa; và nước bao giờ chả là nước của dân mình, dẫu ai cầm quyền cũng vậy.14
Hôm nay: xâm lược, và một mốc năm khác
Đời sau nhớ lại
Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.
Lập trường chính thức hiện nay thì dứt khoát. Một bài trên báo Nhân Dân năm 2005 gọi các hoạt động vũ trang của Triệu Đà là xâm lược, và tính thời Bắc thuộc từ năm 179 trước Công nguyên, khi Âu Lạc rơi vào ách đô hộ nhà Triệu, kéo dài tới năm 905.15
Cần nói rõ về con số 179. Nó không có trong bộ sử Việt nào kể ở trên. Toàn thư và Cương mục chép Âu Lạc mất năm Quý Tỵ, ứng với năm 208 trước Công nguyên; Trần Trọng Kim ghi năm 207.161712 Năm 179 là niên đại do sử học hiện đại dựng lại, không phải chữ của sử cũ.
Nhìn lại, cả cuộc tranh luận có thể đo bằng một câu hỏi rất cụ thể: Bắc thuộc bắt đầu từ năm nào? Với Toàn thư, từ khi nhà Triệu mất. Với Trần Trọng Kim, năm 111 trước Công nguyên. Với Phan Khôi, sớm thêm chín mươi sáu năm, từ lúc Âu Lạc vào tay họ Triệu. Với sử học chính thức hôm nay, năm 179 trước Công nguyên.
Mỗi mốc năm là một thước đo. Lê Văn Hưu đo bằng đức, Ngô Thì Sĩ bằng đất và sự cai trị thật, triều Nguyễn bằng thể lệ chính thống, Phan Khôi bằng dân tộc. Cuộc tranh luận chưa bao giờ xoay quanh chuyện Triệu Đà từ đâu tới — Toàn thư đã ghi điều đó ngay dòng đầu. Nó xoay quanh chuyện điều đó nặng bao nhiêu.
Tập sau: Lữ Gia và cuộc chống trả cuối cùng.
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử lược
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt giám thông khảo tổng luận
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt sử tiêu án
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn
Việt Nam sử lược
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Sông Hương — hai bài của Phan Khôi về Triệu Đà
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Sông Hương — hai bài của Phan Khôi về Triệu Đà
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Báo Nhân Dân — Cuộc xâm lược của nhà Triệu
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Đại Việt sử ký toàn thư
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn