Tập 4Thời kỳ Nam Việt

Lữ Gia và cuộc chống trả cuối cùng

Một viên tướng quốc làm quan trải ba đời vua, được lòng người hơn cả vua, can ngăn việc đem Nam Việt nội thuộc nhà Hán. Trong bữa tiệc bày ra để giết ông, người ngăn thái hậu cầm giáo lại chính là nhà vua mà về sau ông giết — và hai sử thần Việt đã phán về ông theo hai hướng khác nhau.

1 lớp · 8 nguồn · Giọng đọc AI

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tập trước là chuyện đời sau tranh cãi nhà Triệu là chính thống hay ngoại xâm. Tập này quay về chính triều đại ấy, ở những năm cuối cùng của nó. Và nhân vật chính không phải một ông vua.

Đó là một viên tướng quốc tên . Có một bữa tiệc được bày ra để giết ông. Thái hậu muốn lấy giáo đâm ông, và người ngăn bà lại là nhà vua. Về sau, Lữ Gia đem quân giết chính nhà vua ấy.1

Muốn hiểu vì sao lại tới nông nỗi đó, phải lùi lại ba đời vua.

Hai đời vua cáo bệnh

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

chết năm 137 trước Công nguyên. Theo , người nối ngôi là cháu ông, tên Hồ — sử gọi là , thuỵ là Văn Vương.1

Hai năm sau, theo mốc năm mà một thiên khác của Sử ký cho, nước Mân Việt láng giềng đem quân đánh vào Nam Việt.2 Triệu Hồ không đánh trả. Ông dâng thư lên nhà Hán:

Hai nước Việt đều là phiên thần, không được tự tiện dấy binh đánh nhau. Nay Mân Việt dấy binh xâm phạm thần, thần không dám dấy binh, chỉ xin Thiên tử xuống chiếu.1

Nhà Hán khen ông có nghĩa, sai quân đi đánh Mân Việt. Việc ấy kết thúc bằng một vụ giết người trong nhà: em vua Mân Việt là Dư Thiện giết anh mình để xin hàng.1

Triệu Hồ hứa sẽ vào chầu Thiên tử. Rồi ông cáo bệnh không đi, vì các đại thần can một câu rất thẳng: vào chầu thì không trở về được nữa, ấy là cái thế mất nước. Ông chỉ gửi thái tử là sang kinh đô nhà Hán làm túc vệ. Hơn mười năm sau, Hồ bệnh nặng rồi chết.1

Anh Tề về nối ngôi. Việc đầu tiên Sử ký chép về ông là liền cất giấu chiếc ấn Vũ Đế của đời trước.1 Cái ấn mang đế hiệu của Triệu Đà vẫn còn đó, và người mới lên ngôi chọn cách giấu nó đi.

Hồi còn ở Trường An, Anh Tề đã lấy vợ là con gái họ Cù, người đất Hàm Đan, sinh được một con trai tên Hưng. Lên ngôi, ông xin lập Cù thị làm hậu, lập Hưng làm người nối ngôi.1

Sử ký không khen ông. Sách chép ông vẫn thích tự tiện giết người, buông thả theo ý mình, và sợ vào chầu sẽ bị buộc theo phép nước Hán như các chư hầu trong nội địa, nên cũng cáo bệnh không đi, chỉ gửi một người con khác là Thứ Công sang túc vệ. Ông chết, thuỵ là Minh Vương.1

Hai đời vua, hai lần cáo bệnh. Nam Việt giữ lễ phiên thần bằng thư từ và con tin, nhưng không để vua mình sang chầu.

Một thái hậu người Hàm Đan

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Minh Vương chết, lên ngôi khi còn nhỏ. Mẹ ông, người đàn bà họ Cù, thành thái hậu — sử Việt gọi bà là .1

Sử ký không úp mở về bà. Chính văn chép rằng trước khi làm vợ Anh Tề, bà đã tư thông với một người đất Bá Lăng tên là .1

Năm 113 trước Công nguyên, nhà Hán sai chính người ấy sang dụ vua Nam Việt vào chầu. Và Sử ký thêm một câu gọn lỏn: sứ giả lại tư thông với bà.1

Hệ quả được ghi ngay sau đó: người trong nước biết khá rõ, phần nhiều không theo thái hậu.1

Vậy là trên ngai có một ông vua nhỏ tuổi, sau ngai là một bà mẹ người Hàm Đan, và bên cạnh bà là một sứ giả nhà Hán mà người trong nước biết khá rõ là người tình cũ. Còn quyền thật thì nằm ở đâu?

Người được lòng người hơn cả vua

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Sử ký trả lời câu ấy bằng một đoạn tả Lữ Gia:

Tướng quốc là Lữ Gia, tuổi đã cao, làm tướng quốc trải ba đời vua. Người trong tông tộc làm quan tới bậc trưởng lại hơn bảy mươi người. Con trai đều lấy con gái vua, con gái đều gả cho con em và người tông thất nhà vua; lại có liên hệ với Tần Vương ở Thương Ngô.1

Rồi tới câu nặng nhất: ông ở trong nước rất có thế, người Việt tin ông, nhiều người làm tai mắt cho ông; ông được lòng người hơn cả vua.1

Họ Lữ và họ Triệu đã đan vào nhau bằng hôn nhân tới mức khó tách. Nhà vua ngồi trên ngai, nhưng tai mắt trong nước là của tướng quốc.

Vua dâng thư lên nhà Hán, Lữ Gia nhiều lần can ngăn, vua không nghe. Sử ký chép tiếp: ông có lòng phản, mấy lần cáo bệnh không chịu gặp sứ giả nhà Hán.1 Cáo bệnh là cách hai đời vua trước đã dùng với Thiên tử. Giờ tướng quốc dùng chính cách ấy với sứ giả.

chép lại đoạn này gần như nguyên câu, gọi ông là tể tướng, và cho thêm một mốc: năm Đinh Tỵ, tức năm 124 trước Công nguyên, Lữ Gia được phong thái phó.3

Có một điều nên nói rõ ở đây. Ngày nay ông hay được gọi là thừa tướng người Việt. Nhưng Toàn thư và đều không chua quê quán của ông: Toàn thư chỉ gọi ông bằng chức, tể tướng hay thái phó; Cương mục chỉ ghi tên.3 4 Điều mà sử cũ cho ta chắc chắn là chuyện khác: người Việt tin ông, và dòng họ ông đã gắn chặt vào hoàng tộc.

Bữa tiệc rượu

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Rồi tới cảnh trung tâm của cả câu chuyện. Tư Mã Thiên chép nó kỹ tới mức ghi cả hướng mặt của từng người ngồi.

Trong cung bày một bữa tiệc rượu. Mục đích, Sử ký nói không vòng vo: mượn uy thế của sứ giả nhà Hán để giết bọn Lữ Gia.1

Chỗ ngồi được chép thế này: các sứ giả đều ngồi quay mặt về hướng đông; thái hậu quay mặt về hướng nam; vua quay mặt về hướng bắc; tướng quốc Lữ Gia và các đại thần đều quay mặt về hướng tây, ngồi hầu uống rượu.1

Hình dung ra thì Lữ Gia ngồi đối mặt với các sứ giả nhà Hán, còn thái hậu và nhà vua ngồi đối mặt nhau.

Ngoài cung có một chi tiết mà Sử ký đặt ngay sau sơ đồ chỗ ngồi: em Lữ Gia làm tướng, đem quân đóng ở ngoài cung.1

Rượu được một tuần, thái hậu quay sang nói với Lữ Gia:

Nam Việt nội thuộc là cái lợi của nước, vậy mà ngài tướng quốc cứ một mực cho là không tiện, là cớ làm sao?1

Sử ký nói rõ câu ấy để làm gì: cốt chọc cho sứ giả nổi giận.1 Tức là thái hậu muốn chính người Hán ra tay.

Nhưng các sứ giả ngờ vực, trông chờ lẫn nhau, rốt cuộc không ai dám ra tay.1

Lữ Gia thấy những gì tai nghe mắt thấy đều không ổn, liền đứng dậy đi ra. Thái hậu nổi giận, muốn lấy giáo đâm Lữ Gia. Vua ngăn thái hậu lại.1

Đọc lại cảnh ấy theo từng người. Thái hậu là người quyết giết. Các sứ giả là những người được trao thời cơ mà không dám dùng. Lữ Gia là người nhận ra thế cờ và bước ra đúng lúc, trong khi ngoài cung quân của em ông vẫn đang đóng. Còn ông vua nhỏ tuổi là người đã ngăn một vụ giết người.

Lời hịch

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Sau đó, Lữ Gia làm phản. Ông hạ lệnh cho cả nước, và Sử ký chép nguyên lời:

Vua còn nhỏ. Thái hậu là người Trung Quốc, lại dâm loạn với sứ giả, chỉ chăm chăm muốn nội thuộc, đem hết bảo khí của tiên vương vào dâng Thiên tử để cầu cạnh, dắt theo nhiều người, tới Trường An thì bắt bán làm đầy tớ. Chỉ lấy cái lợi thoát thân một lúc, chẳng đoái gì tới xã tắc họ Triệu, chẳng có ý lo tính cho muôn đời.1

Lời hịch không nói về đất nước theo nghĩa trừu tượng. Nó kể tội bằng những thứ cụ thể: bảo khí của tiên vương, những người bị dắt đi rồi bị bán, và xã tắc họ Triệu. Lữ Gia dấy binh nhân danh chính dòng họ mà ông sắp giết một ông vua của nó.

Rồi ông cùng em đem quân đánh giết vua, thái hậu và các sứ giả nhà Hán. Ông sai người báo cho Tần Vương ở Thương Ngô và các quận huyện, rồi lập con trưởng của Minh Vương với người vợ Việt, là Thuật Dương hầu , lên làm vua.1

Hai chữ "vợ Việt" nằm ngay trong chính văn. Người bị giết là con của một bà mẹ người Hàm Đan, người được Anh Tề chọn làm người nối ngôi. Người được lập là con trưởng của cùng một ông vua, mẹ là người Việt.1

Toàn thư chép lại lời hịch với một chỗ đổi cách gọi. Ở đó thái hậu không còn là "người Trung Quốc" mà là vốn là người Hán: vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán, lại loạn dâm với sứ giả nhà Hán, chỉ một lòng muốn nội phụ.3 Toàn thư cũng gọi ông vua bị giết bằng một thuỵ hiệu: Ai Vương.3

Hai nghìn quân, bốn mươi dặm

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Về phía nhà Hán, trước đó triều đình đã sai , vốn là tướng quốc nước Tế Bắc, cùng Cù Lạc, em trai thái hậu, đem hai nghìn quân sang Nam Việt.1

Hàn Thiên Thu từng nói một câu mà Sử ký giữ lại: với cái nước Việt cỏn con ấy… xin cho hai trăm dũng sĩ, ắt chém được Gia về báo.1

Đạo quân thật sự lên đường là hai nghìn người, gấp mười lần con số ông khoe. Quân vào đất Việt, phá được mấy ấp nhỏ. Rồi người Việt làm một việc lạ: cứ mở đường, cấp lương cho mà đi. Tới chỗ còn cách bốn mươi dặm thì người Việt đem quân đánh bọn Thiên Thu, diệt sạch.1

Việc tiếp theo có hai mặt, làm cùng một lúc. Phía Nam Việt sai người bỏ cờ tiết của sứ giả nhà Hán vào hộp, niêm phong lại, đặt ở cửa ải, khéo đặt lời dối trá để tạ tội, rồi phát binh giữ những nơi hiểm yếu.1

Trả lại cờ tiết, gửi lời tạ tội, và đóng quân chặn đường: một tay xin lỗi, một tay giữ cửa. Chữ "dối trá" là chữ của sử gia nhà Hán.

Hai sử thần, hai hướng phán

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Hơn một nghìn năm sau, sử Việt phải quyết định nên nghĩ gì về con người này. Và ngay trong một bộ Toàn thư, hai người chép sử đã đi theo hai hướng khác nhau.

, sử gia thế kỷ XIII, khen trước. Ông viết rằng Lữ Gia can Ai Vương và Cù thái hậu đừng xin làm chư hầu nhà Hán, đừng bỏ cửa quan nơi biên giới — như thế có thể gọi là biết trọng nước Việt vậy.5

Rồi ông lật lại ngay. Nay Lữ Gia lại giết vua mình để hả oán riêng, lại không giữ được nước, để nước Việt bị chia cắt mà vào làm tôi người Hán — thì tội của Lữ Gia, giết đi cũng chưa hết.5 Khen một câu, kết tội một câu, và câu kết tội là câu sau cùng.

đọc cùng câu chuyện ấy và đặt cái gốc ở chỗ khác: tai hoạ của Ai Vương tuy do Lữ Gia gây ra, nhưng mầm của nó thật ra có từ Cù hậu.6

Ông không tha cho Lữ Gia. Câu kết lời bàn của ông đem nghĩa Xuân Thu ra xử cả vua lẫn tôi: làm vua mà không biết nghĩa Xuân Thu thì ắt mang tiếng đầu sỏ tội ác; làm tôi mà không biết nghĩa Xuân Thu thì ắt sa vào tội cướp ngôi giết vua — Minh Vương, Ai Vương và Lữ Gia là như thế.6 Lê Văn Hưu dồn tội về một người. Ngô Sĩ Liên chia nó cho cả ba, và đặt cái mầm ở người đàn bà họ Cù.

, trong bài tổng luận in ở đầu Toàn thư, đi tiếp theo hướng ấy và chỉ đích danh thêm một người: xét tai hoạ của Ai Vương, tuy từ Lữ Gia, nhưng thật là do Minh Vương sủng ái Cù hậu mà mở ra.7

Đến thế kỷ XVIII, trong Việt sử tiêu án cũng quy về chỗ ấy, nhưng đặt hai việc cạnh nhau. Theo bản dịch năm 1960, ông cho rằng mầm mất nước của họ Triệu đã có từ lúc lấy Cù thị làm cung phi, và từ lúc đặt Lữ Gia lên chức thừa tướng.8

Người đứng giữa

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Vậy Lữ Gia là người giữ nước hay người làm mất nước? Các sử gia Việt không trả lời giống nhau, và bài này không trả lời thay họ.

Chỉ nên thấy rằng mọi người tranh luận đều đọc cùng một chính văn: một viên tướng quốc già, được lòng người hơn vua, can không cho nội thuộc, thoát khỏi một bữa tiệc bày ra để giết mình, rồi giết vua, lập một ông vua khác, và diệt đạo quân nhà Hán gửi sang.1

Cuộc chống trả ấy kết thúc ra sao, và chính ông kết thúc ra sao, là chuyện của thời kỳ sau — Hán diệt Nam Việt, năm 111 TCN.

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Sử ký

    Bộ sử Trung Hoa gần thời Tần nhất còn lại; chép việc lập ba quận ở Lĩnh Nam bằng một câu, và chỉ nhắc Đồ Thư trong một bài tấu của người đời Hán. · quyển 113 Nam Việt liệt truyện, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  2. Sử ký

    Bộ sử Trung Hoa gần thời Tần nhất còn lại; chép việc lập ba quận ở Lĩnh Nam bằng một câu, và chỉ nhắc Đồ Thư trong một bài tấu của người đời Hán. · quyển 114 Đông Việt liệt truyện, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  3. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 2, Kỷ nhà Triệu, tờ 12a–17a, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  4. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 1 và 2, phần nhà Triệu, chính văn và lời chua

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  5. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 2, Kỷ nhà Triệu, tờ 17b, lời bàn của Lê Văn Hưu

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  6. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 2, Kỷ nhà Triệu, tờ 15a–15b, lời bàn của Ngô Sĩ Liên

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  7. Việt giám thông khảo tổng luận

    Bài tổng luận của Lê Tung in ở đầu Toàn thư, khen Triệu Đà là bậc anh hùng tài lược rồi ở đoạn sau lại gọi kế lấy Âu Lạc của ông là hiểm. · tờ 4b, lời bàn của Lê Tung

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  8. Việt sử tiêu án

    Tập khảo luận sử của Ngô Thì Sĩ, nơi ông đòi đưa nhà Triệu ra khỏi quốc thống nước Việt và xếp vào lệ ngoại thuộc. · phần nhà Triệu, lời bàn của Ngô Thì Sĩ, đọc qua bản dịch năm 1960

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn