Nhân vật

Triệu Quang Phục

Tướng của Lý Nam Đế, theo Toàn thư lui giữ đầm Dạ Trạch cầm cự với quân Lương rồi xưng vương, sử gọi là Triệu Việt Vương. Người soạn Toàn thư tự ghi rằng sử cũ không chép ông, phải lấy từ dã sử; Trần thư và Thông giám không có tên ông; truyện đầm Một Đêm kể thần nhân — có bản chép là Chử Đồng Tử — trao móng rồng cho ông.

Hồ sơ

Tên khác
Dạ Trạch Vương — tên người trong nước gọi, theo Toàn thư; Triệu Việt Vương — tên kỷ riêng của ông trong Toàn thư, còn Lĩnh Nam chích quái nói ông tự lập làm Triệu Việt Vương sau khi phá quân Lương123
Niên đại
Theo Toàn thư: năm 547 lui giữ đầm Dạ Trạch, năm 549 được điềm móng rồng, năm 550 đánh tan quân Lương, năm 571 thua Lý Phật Tử, gieo mình xuống biển. Toàn thư lấy năm 548, năm Lý Nam Đế mất, làm năm thứ nhất của ông và ghi ông ở ngôi 23 năm; Cương mục cho rằng năm ấy ông chưa xưng vương, đặt việc ông xưng Việt Vương vào năm 549 và đếm lại thành 22 năm. Bản Lĩnh Nam chích quái mà tập Chử Đồng Tử kể lại không nêu năm nào1245673
Vai trò
Theo Lĩnh Nam chích quái, tướng được Lý Nam Đế cử ra chống Trần Bá Tiên, đem quân ẩn vào chính cái đầm trong truyện Chử Đồng Tử, dùng thuyền độc mộc lao ra đánh úp, cướp lương thực để đánh lâu dài. Theo Toàn thư, theo Nam Đế đi đánh dẹp có công, được phong Tả tướng quân; khi Lý Bí thua ở hồ Điển Triệt, lui giữ động Khuất Lạo, ông được giao giữ nước, điều quân đánh Bá Tiên; năm 547 lui về giữ đầm Dạ Trạch; Nam Đế mất thì xưng vương, đóng đô ở Long Biên rồi dời sang Vũ Ninh3281
Quê quán
Người huyện Chu Diên, theo Toàn thư2
Gia tộc
Theo Toàn thư, cha ông là Triệu Túc, tù trưởng Chu Diên, người đã dẫn đầu đem người về theo Lý Bí năm 541. Con gái ông là Cảo Nương; Nhã Lang, con trai Lý Phật Tử, cầu hôn nàng và về ở rể. Ngô Sĩ Liên, bàn chuyện Mỵ Châu, nói con gái Triệu Việt Vương cũng được chép mô phỏng y như Mỵ Châu — chính chỗ lặp lại ấy khiến ông sinh nghi; nhưng kỷ Triệu Việt Vương trong Toàn thư hiện còn không có cảnh con gái ông làm dấu đường291011
Kết cục
Theo Lĩnh Nam chích quái, ông phá tan quân Lương, chém phó tướng của Trần Bá Tiên tại trận rồi tự lập làm Triệu Việt Vương. Theo Toàn thư, năm 550 ông đánh tì tướng Dương Sàn — chính văn nói Sàn thua chết, lời bàn của Ngô Sĩ Liên lại nói ông bắt được Sàn. Năm 571, Lý Phật Tử bội lời thề cất quân đánh; ông đội mũ đâu mâu đứng đợi, biết thế không chống nổi, đem con gái chạy về nam, tới cửa biển Đại Nha bị nước chặn, than 'Ta cùng đường rồi!' rồi gieo mình xuống biển. Chính văn không nhắc lại cái móng đã bị đổi; Cương mục thì nói thẳng vua đã mất móng rồng3512613
Thờ tự
Theo Toàn thư, người đời sau thấy ông linh thiêng, lập đền thờ ở cửa biển Đại Nha, nơi ông gieo mình xuống biển6

Tiểu sử

Truyền thuyết kể

Bản chép cổ của truyện đầm Một Đêm không dừng lại ở chỗ Tiên Dung và Chử Đồng Tử bay lên trời; nó viết tiếp sang một cuộc chiến khác, xảy ra sau đó khoảng năm trăm năm. Vua Lương sai Trần Bá Tiên đem quân sang xâm lược, Lý Nam Đế cử ông làm tướng chống lại, và ông đem quân ẩn vào chính cái đầm ấy. Đầm rộng và sâu, bùn lầy khó đưa quân vào; ông dùng thuyền độc mộc lao ra đánh úp, cướp lương thực để đánh lâu dài, làm mỏi quân địch. Ba bốn năm liền, hai bên không giao được mũi giáo. Bá Tiên than một câu chơi chữ: xưa gọi là đầm một đêm lên trời, nay lại là đầm một đêm cướp bóc.3

Thế bế tắc vỡ khi bên Lương có loạn Hầu Cảnh, vua Lương gọi Bá Tiên về và giao quân lại cho phó tướng. Ông ăn chay, lập đàn giữa đầm, đốt hương cầu khấn; thần nhân cưỡi rồng xuống đàn — có bản chép rõ đó chính là Chử Đồng Tử — nói rằng chỗ ta lên trời khí thiêng vẫn còn, ngươi khẩn cầu được nên ta tới giúp. Rồi tháo móng rồng trao cho, dặn cắm lên mũ trụ, đánh đâu thắng đó. Được vật ấy, quân uy lừng lẫy, ông phá tan quân Lương, chém phó tướng của Bá Tiên tại trận, sau tự lập làm Triệu Việt Vương.3

Sử cũ chép

Đoạn về ông bị cắt khỏi mọi bản kể Chử Đồng Tử ngày nay, và dễ hiểu vì sao: nó thuộc một thời khác, một cuộc chiến khác. Nhưng cắt đi thì mất một thứ. Người soạn sách không xem chuyện Chử Đồng Tử là một truyện cổ tích đã đóng lại; với ông đó là chỗ thiêng vẫn còn tác dụng, và bằng chứng là năm trăm năm sau nó giúp một ông tướng đánh giặc giữ nước. Truyền thuyết, ở đây, được dùng như một nguồn sức mạnh đang hoạt động.3

Trong Toàn thư, ông có hẳn một kỷ riêng, nhưng ngay dưới tên kỷ người soạn đặt một dòng chữ nhỏ: sử cũ không chép Triệu Việt Vương, nay lấy dã sử và các sách khác mới chép vị hiệu của Việt Vương. Tiểu truyện mở kỷ chép ông là con Triệu Túc, người huyện Chu Diên, oai hùng dũng liệt, theo Nam Đế đi đánh dẹp có công, được phong Tả tướng quân. Theo Toàn thư, khi Lý Bí thua ở hồ Điển Triệt, lui giữ động Khuất Lạo, ông được giao giữ nước, điều quân đánh Bá Tiên; Cương mục giữ chi tiết ấy, ghi là lấy từ sử cũ và gọi ông là tả tướng quân. Việt sử lược thì kể khác: dư đảng sợ thế quân Bá Tiên, đem cả bọn ra hàng, không ai được trao nước.14281516

Năm Đinh Mão 547, Toàn thư chép Quang Phục cầm cự với Trần Bá Tiên chưa phân thắng bại, liệu không chống nổi, bèn lui về giữ đầm Dạ Trạch ở Chu Diên: bốn mặt bùn lầy, chỉ thuyền độc mộc nhỏ chống sào mới tới được nền đất giữa đầm. Ông đem hơn hai vạn người vào đóng ở đó — Cương mục nói hơn một vạn — ban ngày tắt hết khói lửa, ban đêm dùng thuyền độc mộc ra đánh doanh trại Bá Tiên; người trong nước gọi ông là Dạ Trạch Vương. Năm Kỷ Tỵ 549, ông đốt hương cầu đảo và được điềm lành mũ đâu mâu móng rồng. Chính văn chỉ nói hai chữ 'điềm lành', không nói ai trao; tên Chử Đồng Tử chỉ có trong một lời chua mở đầu bằng 'tục truyền'.117418

Năm Canh Ngọ 550, theo Toàn thư, Bá Tiên bị gọi về vì loạn Hầu Cảnh, giao việc cho tì tướng Dương Sàn; vua tung quân ra đánh, Sàn thua chết, quân Lương tan vỡ chạy về Bắc, vua vào ở thành Long Biên. Lời bàn của Ngô Sĩ Liên ở năm 571 lại nói vua bắt được Dương Sàn. Trần thư, bản kỷ của chính Bá Tiên, thì đặt ông tháng Giêng năm ấy ở Nam Khang, đang kéo quân lên phía bắc đánh Hầu Cảnh; trong quyển kỷ ấy, và trong chính văn ba quyển Thông giám chép những năm ấy, không có tên Triệu Quang Phục, đầm Dạ Trạch hay Dương Sàn. Sự im lặng ấy không chứng minh ông không có thật; nó chỉ cho biết mọi điều ta biết về ông đều đi qua sách Việt.5121920

Bàn về chuyện nỏ thần, Ngô Sĩ Liên viết rằng chuyện Mỵ Châu rắc lông ngỗng làm dấu đường chưa chắc đã có, vì nếu có thì chỉ nên chép một lần là đủ, vậy mà con gái Triệu Việt Vương sau này lại được chép mô phỏng y như thế; có lẽ người chép sử thấy nhà Thục và nhà Triệu mất nước đều do con rể, nhân một việc mà nói thành hai. Rồi ông kết: An Dương Vương bại vì nỏ thần bị thay lẫy, Triệu Việt Vương bại vì mũ đâu mâu mất móng, ấy chỉ là mượn lời để thần thánh hoá đồ vật mà thôi.11

Toàn thư chép chuyện này vào chính văn, dưới lời án nói phần này lấy từ dã sử. Con gái ông là Cảo Nương; Nhã Lang, con trai Lý Phật Tử, cầu hôn nàng, vua rất yêu con nên cho Nhã Lang về ở rể. Năm 570, Cảo Nương không hiểu ý chồng, lén lấy chiếc mũ đâu mâu móng rồng ra cho xem; Nhã Lang ngầm tính kế đổi cái móng, rồi về bàn với cha đánh úp vua. Năm 571, Phật Tử bội lời thề cất quân đánh; vua đội mũ đâu mâu đứng đợi — câu ấy không nhắc lại cái móng đã bị đổi — rồi đem con gái chạy về nam, tới cửa biển Đại Nha thì gieo mình xuống biển; người đời sau lập đền thờ ông ở đó. Cương mục nói thẳng điều Toàn thư để ngầm: vua đã mất móng rồng.2110613

Được nhắc trong

  1. Tập 4Nỏ thần, Mỵ Châu – Trọng Thuỷ8 phút
  2. Tập 7Quân Lương phản công, Lý Nam Đế mất (545–548)10 phút
  3. Tập 8Triệu Quang Phục — Dạ Trạch Vương (548–550)11 phút
  4. Tập 9Lý Phật Tử tranh ngôi, Vạn Xuân sụp đổ (571–602)11 phút
  5. Tập 11Chử Đồng Tử và Mai An Tiêm11 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Tiền Lý, năm Bính Dần 546 và Đinh Mão 547, tờ 17a–17b — chính văn

    Về đoạn văn

  2. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Triệu Việt Vương, tờ 18a — tiểu truyện và chính văn năm Mậu Thìn 548

    Về đoạn văn

  3. Lĩnh Nam chích quái

    truyện Đầm Một Đêm

    Về đoạn văn

  4. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Triệu Việt Vương, năm Kỷ Tỵ 549, tờ 18b–19a — chính văn

    Về đoạn văn

  5. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Triệu Việt Vương, năm Canh Ngọ 550 — chính văn

    Về đoạn văn

  6. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Hậu Lý Nam Đế, tiểu truyện và năm Tân Mão 571, tờ 20b–21a — chính văn, lời bình chữ nhỏ dưới tên vua và lời chua địa danh

    Về đoạn văn

  7. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 4, các năm Mậu Thìn 548 và Kỷ Tỵ 549 — cương, mục, phần chú và lời cẩn án của sử thần

    Về đoạn văn

  8. Đại Việt sử ký toàn thư

    Kỷ Tiền Lý, tờ 14b–17a — chính văn và lời chua nhỏ của Toàn thư

    Về đoạn văn

  9. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Tiền Lý, năm Tân Dậu 541 — chính văn

    Về đoạn văn

  10. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Triệu Việt Vương, đoạn Nhã Lang và năm Canh Dần 570, tờ 20a — chính văn

    Về đoạn văn

  11. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 1, kỷ An Dương Vương và lời bàn của Ngô Sĩ Liên

    Về đoạn văn

  12. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Hậu Lý, năm 571, tờ 21a–21b — lời bàn của Ngô Sĩ Liên

    Về đoạn văn

  13. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 4, năm Tân Mão 571 — phần mục dẫn sử cũ và lời cẩn án của sử thần

    Về đoạn văn

  14. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, đầu Kỷ Triệu Việt Vương, tờ 17b — lời án chữ nhỏ của người soạn

    Về đoạn văn

  15. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 4 — phần cương và mục

    Về đoạn văn

  16. Việt sử lược

    quyển thượng, mục chép các đời quan cai trị — chính văn

    Về đoạn văn

  17. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 4, năm Đinh Mão 547 — phần cương và mục

    Về đoạn văn

  18. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ Triệu Việt Vương, tờ 19a — lời chua mở đầu bằng "tục truyền"

    Về đoạn văn

  19. Trần thư

    quyển 1, Cao Tổ kỷ thượng — chính văn

    Về đoạn văn

  20. Tư trị thông giám

    quyển 160 đến 162 — chính văn, bản không có chú

    Về đoạn văn

  21. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, đầu Kỷ Triệu Việt Vương, tờ 17b — lời án của người soạn, chữ nhỏ

    Về đoạn văn