Tập 1Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất và Hai Bà Trưng

Hán diệt Nam Việt, năm 111 TCN

Nhà Hán phát năm cánh quân, hẹn cùng hội ở Phiên Ngung, nhưng theo Sử ký chỉ hai cánh tới nơi, một cánh trong đó tới trễ với hơn nghìn người. Khi thành bị đốt, cả thành lại ra hàng chính viên tướng tới trễ ấy.

1 lớp · 13 nguồn · Giọng đọc AI

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tập trước dừng ở chỗ đã giết vua, lập lên thay, và toán quân Hán sang trước bị diệt sạch khi còn cách bốn mươi dặm.1

Lần này nhà Hán không gửi hai nghìn người nữa. Họ phát năm cánh quân, cùng hẹn một chỗ: Phiên Ngung.

Nhưng đến lúc thành mất, ba cánh còn chưa tới. Cánh thứ tư tới trễ, trong tay chỉ còn hơn nghìn người. Và cả thành lại ra hàng đúng viên tướng tới trễ ấy.

Chuyện gì đã xảy ra? Hai bộ sử gần thời nhất kể lại khá kỹ.1

Một lệnh ân xá để đi đánh giặc

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Theo của , mở đầu cuộc chiến không phải bằng một lời hiệu triệu, mà bằng một lệnh ân xá.

Lời lệnh chép như sau: Thiên tử suy yếu thì chư hầu dùng sức mạnh mà cai trị, bề tôi không đánh giặc thì bị chê. Nay bọn Lữ Gia, Kiến Đức làm phản, tự lập lên mà thản nhiên như không. Sai những kẻ có tội cùng mười vạn quân thuyền lầu ở phía nam sông Giang, sông Hoài sang đánh.1

Con số mười vạn là con số tổng mà lệnh ấy đưa ra. Còn cụm những kẻ có tội sẽ trở lại hai lần nữa trong đoạn bày quân: một cánh quân dùng người có tội ở đất Ba Thục, và quân của chính vị tướng sẽ nhận Phiên Ngung ra hàng cũng là người có tội.1 Một phần đạo quân diệt nước là những người được tha tội để đi đánh.

Năm cánh quân, một điểm hẹn

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Mùa thu năm Nguyên Đỉnh thứ năm, tức năm 112 trước Công nguyên, Sử ký chép năm cánh quân lên đường.1

Cánh thứ nhất do Vệ uý cầm, mang hiệu Phục Ba tướng quân, ra từ Quế Dương, xuôi sông Hối.

Cánh thứ hai do Chủ tước đô uý cầm, mang hiệu Lâu Thuyền tướng quân, ra từ Dự Chương, xuống Hoành Phố.

Cánh thứ ba và thứ tư giao cho hai viên hầu người Việt đã quy phục nhà Hán từ trước. Một người làm Qua Thuyền tướng quân, một người làm Hạ Lệ tướng quân, cùng ra từ Linh Lăng; một cánh xuôi sông Ly, một cánh nhắm tới Thương Ngô.

Cánh thứ năm do Trì Nghĩa hầu cầm: dùng những kẻ có tội ở đất Ba Thục, phát thêm quân nước Dạ Lang, xuôi sông Tường Kha.

Và câu chốt: tất cả cùng hội ở Phiên Ngung.1

Hai trong năm viên tướng là người Việt, và chữ ấy nằm ngay trong chính văn. Còn Trì Nghĩa hầu thì chính văn không cho tên. Lời chú Tập giải của Bùi Nhân, thế kỷ thứ năm, dẫn Từ Quảng nói ông cũng là người Việt, tên là Di.2 Nếu lời chú ấy đúng, thì ba trong năm cánh quân đánh Nam Việt do người Việt cầm đầu.

của Ban Cố, soạn ở thế kỷ thứ nhất, chép lại đoạn bày quân này gần như từng chữ.3

Tới nơi chỉ có một cánh rưỡi

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Việc đánh thật sự diễn ra vào mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ sáu, tức năm 111 trước Công nguyên.1

Dương Bộc tới trước. Ông đem quân tinh nhuệ hạ Tầm Hiệp, phá Thạch Môn, lấy được thuyền và thóc của người Việt, nhân đà tiến lên, bẻ gãy mũi nhọn quân Việt, rồi đem mấy vạn người dừng lại chờ Phục Ba.1

Ở đúng câu này, Hán thư chép thêm một chữ: đem mấy vạn người Việt chờ Phục Ba tướng quân.3 Họ là ai, sách không giảng.

Còn Phục Ba thì sao? Sử ký chép thẳng: Phục Ba tướng quân đem những kẻ có tội, đường xa, tới sau hẹn; khi hội với Lâu Thuyền thì chỉ còn hơn nghìn người.1 Hơn nghìn người, đặt cạnh con số mười vạn trong lệnh xuất quân.

Ba cánh còn lại thì không tới. Sử ký chép ở cuối truyện: quân của Qua Thuyền, Hạ Lệ tướng quân cùng quân Dạ Lang do Trì Nghĩa hầu phát ra chưa xuống tới thì Nam Việt đã bình xong.1

Một đêm lửa ở Phiên Ngung

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Lâu Thuyền đi trước, tới Phiên Ngung. Kiến Đức và Lữ Gia đều cố thủ trong thành. Lâu Thuyền tự chọn chỗ thuận lợi, đóng ở mặt đông nam; Phục Ba đóng ở mặt tây bắc.1

Vừa chiều tối, Lâu Thuyền đánh bại người Việt, phóng lửa đốt thành.1

Rồi tới câu làm xoay cả trận: người Việt vốn nghe danh Phục Ba; trời tối, không biết quân ông nhiều hay ít. Phục Ba bèn dựng doanh trại, sai sứ đi chiêu hàng, ai ra hàng thì ban ấn, lại thả cho về gọi thêm người khác ra hàng.1

Hai viên tướng ở hai mặt thành, làm hai việc ngược nhau. Và Sử ký tả kết quả bằng một câu nghe rất trớ trêu: Lâu Thuyền càng ra sức đánh đốt, lại càng lùa quân địch chạy vào doanh trại của Phục Ba.1

Tảng sáng, cả thành đều hàng Phục Ba.1

Toàn bộ trận đánh, theo chính văn, gói trong một buổi chiều tối và một đêm. Người đốt thành là Dương Bộc. Người nhận cả thành ra hàng là Lộ Bác Đức, người tới trễ với hơn nghìn quân mà trong bóng tối không ai biết là ít.

Chạy ra biển

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Sử ký chép: Lữ Gia, Kiến Đức đã nhân đêm cùng vài trăm thuộc hạ trốn ra biển, đi thuyền về phía tây.1

Quân Hán biết đường đuổi theo là nhờ chính người Nam Việt. Phục Ba hỏi những người quý tộc đã ra hàng, nhờ đó mới biết Lữ Gia đi đâu, rồi sai người đuổi theo.1

Hai người bị bắt bởi hai người khác nhau. Viên hiệu uý tư mã cũ là Tô Hoằng bắt được Kiến Đức, được phong Hải Thường hầu. Còn người bắt được Lữ Gia là một viên lang người Việt tên Đô Kê, được phong Lâm Thái hầu.1 Lời chú Tập giải ghi thêm rằng trong bảng công thần, tên người này chép là Tôn Đô.2

Vị tướng quốc trải ba đời vua, người mà chính Sử ký nói được lòng dân hơn cả vua, cuối cùng bị một người Việt bắt nộp cho nhà Hán.1

chép đoạn này theo cùng một mạch, và cũng chua rằng có bản ghi người bắt Gia là Tôn Đô. Chỉ khác là Toàn thư gọi Kiến Đức là vua. Câu chuyện của Lữ Gia trong Toàn thư dừng ở chữ bắt được.4

Những người không đợi bị đánh

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Phiên Ngung mất rồi, phần còn lại của Nam Việt theo về nhà Hán mà sử không chép thêm trận nào.

Sử ký kể ba người. Thương Ngô Vương là Triệu Quang, cùng họ với vua Việt, nghe tin quân Hán tới thì theo về. Huyện lệnh Yết Dương tên Định tự quyết định theo Hán. Và viên giám quận Quế Lâm là Cư Ông dụ Âu Lạc theo về nhà Hán. Cả ba đều được phong hầu.1

Ở câu này, Sử ký không có con số nào. Bản Hán thư lưu hành ngày nay chép: Cư Ông dụ bảo Âu Lạc hơn bốn mươi vạn khẩu ra hàng, được phong Tương Thành hầu.3 Cũng ở đoạn ấy, Hán thư kể thêm một viên tướng Việt là Tất Thủ đem quân ra hàng, và cho viên huyện lệnh Yết Dương đủ họ tên là Sử Định.3

Nhưng con số ấy có một chỗ vênh đáng nói. Tư Mã Trinh, nhà chú Sử ký đời Đường thế kỷ thứ tám, cũng dừng lại ở câu về Cư Ông và dẫn Hán thư để bổ sung. Câu ông dẫn là: Âu Lạc hơn ba mươi vạn khẩu hàng Hán.5

Cùng một cuốn sách, cùng một câu, hai con số: ba mươi vạn trong lời dẫn đời Đường, bốn mươi vạn trong bản Hán thư đọc được ngày nay. Từ hai câu này không thể biết bên nào chép sai.

Và cũng nên biết con số ấy đếm cái gì. Chữ trong sách là khẩu, tức đầu người, không phải số quân. Hán thư cũng không nói Âu Lạc ở đây là vùng nào.3

Những người ra hàng đều là người của Nam Việt: một vị vương cùng họ nhà vua, một huyện lệnh, một viên tướng, một giám quận. Và ai cũng được phong hầu.

Chín quận, và ai kể tên chúng

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Sử ký kết thúc chiến dịch bằng bốn chữ: bèn làm chín quận.1

Chính văn không kể tên quận nào.

Danh sách nằm ở Hán thư: lấy đất ấy đặt làm chín quận: Đam Nhĩ, Chu Nhai, Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.3

Trong bản Sử ký in ngày nay, người đọc vẫn thấy danh sách ấy ngay dưới chữ chín quận. Nhưng đó là lời chú Tập giải của Bùi Nhân, dẫn lời Từ Quảng.2 Và chính Tư Mã Trinh đã chú thêm rằng Từ Quảng đều căn cứ vào Hán thư mà nói.5 Tức những cái tên như hay , hay được gán cho Sử ký, thật ra đến từ Hán thư, qua tay hai nhà chú.

Còn việc ban thưởng, Sử ký chép gọn: Phục Ba được phong thêm; Lâu Thuyền, vì quân đã đánh hãm được chỗ kiên cố, được phong hầu.1

Ba cái tên cuối trong danh sách, Giao Chỉ, Cửu Chân và , là chỗ tập sau sẽ đi vào kỹ.

Năm 112 hay năm 111

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Không phải nguồn nào cũng ghi năm 111.

Sử ký và Hán thư tách hai mốc rõ ràng: xuất quân mùa thu năm Nguyên Đỉnh thứ năm, phá thành mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ sáu.1 3 Quy ra dương lịch, đó là năm 112 và năm 111 trước Công nguyên.

, soạn ở thế kỷ thứ năm, lại chép gọn một câu: đến năm Nguyên Đỉnh thứ năm đời Vũ Đế thì diệt, chia đặt chín quận. Tức là gói việc diệt nước vào năm 112.6

, ở thế kỷ thứ sáu, còn lệch xa hơn: Hán Vũ Đế năm Nguyên Đỉnh thứ hai mới gồm Bách Việt, mở bảy quận. Lệch cả năm lẫn số quận.7

Tập này theo mốc 111, vì hai bộ sử gần thời nhất đều đặt việc phá Phiên Ngung vào mùa đông năm thứ sáu.

Sử Việt thì khép nhà Triệu ở cùng một năm, dù mỗi bộ mở đầu nhà Triệu ở một năm khác. tính nhà Triệu bảy mươi tư năm, từ năm Đinh Tỵ tới năm Canh Ngọ.8 tính chín mươi bảy năm, từ năm Giáp Ngọ tới năm Canh Ngọ.9 Năm Canh Ngọ ấy là năm 111 trước Công nguyên. của Trần Trọng Kim cũng ghi nhà Triệu dừng ở năm 111, và mở phần Bắc thuộc thời đại ngay từ năm ấy.10 Toàn thư, hết Kỷ nhà Triệu, cũng chuyển sang Kỷ thuộc Tây Hán.11

Còn phía Trung Hoa thì cho một con số thứ ba: từ khi Uý Đà xưng vương, cả thảy năm đời, chín mươi ba năm thì mất.3 Sử ký cũng chép năm đời chín mươi ba năm, mà không cho cách tính.1

Bảy mươi tư, chín mươi ba, chín mươi bảy. Các bộ sử bất đồng về lúc nhà Triệu bắt đầu, nhưng gần như thống nhất về lúc nó kết thúc.

Lời bàn của Tư Mã Thiên

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Cuối truyện Nam Việt, Tư Mã Thiên viết lời bàn của riêng ông. Lời bàn ấy mở bằng câu đã gặp ở thời kỳ trước: Uý Đà làm vua, gốc là do . Và nó khép lại bằng chính cuộc chiến vừa kể.12

Về phía Nam Việt, ông viết: về sau mất nước, điềm báo khởi từ người con gái họ Cù; Lữ Gia giữ cái trung nhỏ, khiến Đà không còn người nối dõi.12

Cái trung nhỏ. Ông không gọi Lữ Gia là phản thần, cũng không gọi là trung thần. Lữ Gia có trung, nhưng cái trung ấy nhỏ, và chính nó khiến dòng họ của tuyệt tự.

Rồi ông quay sang hai viên tướng Hán: Lâu Thuyền buông theo lòng muốn, lười biếng kiêu ngạo mà lầm lạc; Phục Ba lâm vào cảnh khốn quẫn, mưu trí lại càng nảy nở, nhân hoạ mà thành phúc. Và câu khép: sự xoay vần của thành với bại, ví như sợi dây bện.12

Đặt lời bàn ấy cạnh đoạn kể trận Phiên Ngung thì thấy hai bên soi vào nhau: người tới trễ với hơn nghìn quân lại là người nhận cả thành; người đánh hăng nhất lại bị chê.

Ngay sau lời bàn, bản Sử ký in ngày nay đặt thêm một bài tán ngắn. Dễ tưởng đó là phần tiếp theo của Tư Mã Thiên, nhưng không phải. Bài tán ấy do Tư Mã Trinh soạn ở đời Đường, cách Tư Mã Thiên gần chín trăm năm. Và nó nhìn Lữ Gia khác hẳn: Lữ Gia hung ngược; vua tôi chẳng hoà, rốt cuộc bị diệt bỏ.13

Từ cái trung nhỏ tới hung ngược: hai lời phán về cùng một người, in liền nhau, cách nhau chín trăm năm.

Tập sau: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Sử ký

    Bộ sử Trung Hoa gần thời Tần nhất còn lại; chép việc lập ba quận ở Lĩnh Nam bằng một câu, và chỉ nhắc Đồ Thư trong một bài tấu của người đời Hán. · quyển 113 Nam Việt liệt truyện, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  2. Sử ký

    Bộ sử Trung Hoa gần thời Tần nhất còn lại; chép việc lập ba quận ở Lĩnh Nam bằng một câu, và chỉ nhắc Đồ Thư trong một bài tấu của người đời Hán. · quyển 113 Nam Việt liệt truyện, lời chú Tập giải của Bùi Nhân dẫn Từ Quảng

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  3. Hán thư

    Bộ sử nhà Tây Hán của Ban Cố; chép bài sớ do chính Lưu An ký tên kể cuộc chiến ở đất Việt gọn hơn hẳn sách của ông, và chép số người Âu Lạc ra hàng năm 111 trước Công nguyên. · quyển 95 Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên truyện, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  4. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 2, Kỷ nhà Triệu, tờ 17a, chính văn và lời chua

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  5. Sử ký

    Bộ sử Trung Hoa gần thời Tần nhất còn lại; chép việc lập ba quận ở Lĩnh Nam bằng một câu, và chỉ nhắc Đồ Thư trong một bài tấu của người đời Hán. · quyển 113 Nam Việt liệt truyện, lời chú Sách ẩn của Tư Mã Trinh

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  6. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 86 Nam Man Tây Nam Di liệt truyện, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  7. Thuỷ kinh chú

    Bộ sách chú giải sông ngòi của Trung Hoa, giữ lại nhiều đoạn trích từ sách đã mất, trong đó có Giao Châu ngoại vực ký. · quyển 37

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  8. Việt sử lược

    Bộ sử cổ khuyết danh kể buổi lập quốc mà không hề nhắc tới rồng tiên hay họ Hồng Bàng. · quyển thượng, Triệu kỷ

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  9. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên, phần nhà Triệu

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  10. Việt Nam sử lược

    Bộ sử phổ thông bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên được đọc rộng rãi; tác giả tự đặt dấu hỏi sau niên đại 2879 trước Công nguyên. · quyển 1, chương Nhà Triệu và đầu phần Bắc thuộc thời đại

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  11. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ, thứ tự các kỷ từ Kỷ nhà Triệu sang Kỷ thuộc Tây Hán

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  12. Sử ký

    Bộ sử Trung Hoa gần thời Tần nhất còn lại; chép việc lập ba quận ở Lĩnh Nam bằng một câu, và chỉ nhắc Đồ Thư trong một bài tấu của người đời Hán. · quyển 113 Nam Việt liệt truyện, lời bàn Thái sử công của Tư Mã Thiên

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  13. Sử ký

    Bộ sử Trung Hoa gần thời Tần nhất còn lại; chép việc lập ba quận ở Lĩnh Nam bằng một câu, và chỉ nhắc Đồ Thư trong một bài tấu của người đời Hán. · quyển 113 Nam Việt liệt truyện, bài Sách ẩn thuật tán của Tư Mã Trinh in cuối quyển

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn