Tập 2Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất và Hai Bà Trưng

Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam

Nhà Hán chia đất Nam Việt làm chín quận, nhưng bảng thống kê năm 2 chỉ còn bảy. Trong bảy quận ấy, riêng Giao Chỉ có số khẩu nhiều hơn sáu quận kia cộng lại — và muốn hiểu con số ấy thì trước hết phải hỏi nó đếm cái gì.

3 lớp · 11 nguồn · Giọng đọc AI

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tập trước khép lại ở việc lập quận. chép gọn: diệt xong Nam Việt, nhà Hán lấy đất ấy đặt làm chín quận, và kể đủ chín tên, từ Đam Nhĩ, cho tới , , .1

Nhưng lật sang thiên Địa lý chí của chính bộ sách ấy, chỗ Ban Cố kê ra đất Việt gồm những quận nào, thì chỉ đếm được bảy.2

Hai quận kia đi đâu? Đi tìm câu trả lời, ta sẽ gặp ba quận đứng cuối danh sách chín quận, và một bảng số hộ số khẩu mà đến nay vẫn còn đọc được.

Chín quận, rồi còn bảy

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Bảy quận trong Địa lý chí là Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam. Ban Cố viết rằng cả bảy đều thuộc phân dã đất Việt, tức phần đất ứng với sao Khiên Ngưu, sao Vụ Nữ trên trời.2

Vắng mặt là Đam Nhĩ và Chu Nhai. Cùng thiên ấy giải thích: từ Hợp Phố, Từ Văn đi về nam vào biển thì gặp một châu lớn, bốn bề vuông nghìn dặm, nhà Hán lấy đặt làm hai quận ấy. Rồi sách nói thẳng vì sao chúng không trụ được: từ khi mới đặt quận huyện, quan lại quân lính người Trung Quốc phần nhiều lấn hiếp dân, nên cứ vài năm lại một lần làm phản. Đến đời Nguyên Đế thì bỏ.2

Có một chỗ lệch nhỏ đáng ghi lại. Thiên chép chuyện diệt Nam Việt ghi chín quận được đặt cùng lúc, năm 111 trước Công nguyên.1 Còn Địa lý chí lại ghi hai quận trên đảo được đặt vào năm Nguyên Phong thứ nhất, tức 110 trước Công nguyên.2 Hai thiên của cùng một bộ sách lệch nhau đúng một năm.

Việc bỏ đảo được chép kỹ hơn trong truyện . Năm 46 trước Công nguyên, viên quan này dâng sớ can việc động binh ở Chu Nhai. Đó là lời của người đang muốn bỏ đất: ông dồn đủ lời lẽ khinh miệt người Lạc Việt, rồi kết rằng họ vốn không đáng đặt quận huyện. Đảo thì sương mù ẩm thấp, cỏ độc rắn rết, người chưa thấy giặc mà chiến sĩ đã tự chết. Câu chốt của ông là một phép tính lợi hại: bỏ đi không đáng tiếc, không đánh cũng không tổn uy.3

Nguyên Đế nghe theo. Chiếu vua đặt lý do ở ngay trong nước: Quan Đông khốn quẫn lớn, kho tàng trống rỗng; động binh thì chẳng những làm nhọc dân, mà năm mất mùa sẽ theo sau. Rồi lệnh: hãy bãi quận Chu Nhai. Dân nào muốn nội thuộc thì cứ để họ ở, không muốn thì chớ ép.3

Chín, bảy, hay tám

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Vậy câu trả lời gọn là: chín quận là lúc lập, bảy quận là từ khi bỏ đảo trở đi.2 Nhưng sử sách không chịu gọn như thế.

Trong , chính viên tướng có lần nói rằng nhà Hán xưa sai mở đặt bảy quận.4 Nhà chú đời Đường là Lý Hiền đọc tới đó đã phải ghi thêm một dòng: nay chỗ này nói bảy quận, thế là không giống sách trước — sách trước tức Hán thư.5

Còn trong chính bài sớ của Giả Quyên Chi, Hán thư lại chép nhà Hán chế ngự Nam Hải, đặt làm tám quận.3 Con số tám không khớp với mốc nào trong hai mốc trên, và bài này chưa tìm được lời giải cho nó.

Chín, bảy, tám: ba con số cho cùng một vùng đất, cả ba đều nằm trong chính sử. Gặp chữ "chín quận" hay "bảy quận" ở đâu, câu nên hỏi trước tiên là: tính vào năm nào.

Ba quận xa nhất về phương nam

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Trong bảy quận đất Việt, ba quận nằm xa nhất về phương nam là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.

Phần chí về quận huyện ghép vào Hậu Hán thư, vốn là sách của Tư Mã Bưu đời Tấn chứ không phải của Phạm Diệp, đo đường từ kinh đô Lạc Dương xuống. Giao Chỉ cách một vạn một nghìn dặm về phía nam. Cửu Chân một vạn một nghìn năm trăm tám mươi dặm. Nhật Nam một vạn ba nghìn bốn trăm dặm. Bốn quận còn lại của đất Việt đều gần kinh đô hơn cả ba.6

Cạnh tên quận Giao Chỉ, văn bản ấy còn có một dòng chú ngắn mà rất đắt: tức là nước của An Dương Vương. Nhưng phải nói rõ tầng của nó. Dòng ấy là của Tư Mã Bưu hay của người chú sách đời Lương là Lưu Chiêu thì chưa phân định được; dù là ai, đó cũng là lời ghi từ thế kỷ thứ ba tới thế kỷ thứ sáu, không phải chữ của Hán thư.6 Nó cho biết người đời ấy coi quận Giao Chỉ là đất cũ của .

Hán thư kê huyện của từng quận. Giao Chỉ có mười huyện, trong đó có những cái tên quen tai như , Chu Diên, Long Biên, và .2 Riêng Luy Lâu, một sách địa lý đã mất là , được dẫn lại, ghi rằng huyện ấy vốn là trị sở của quận Giao Chỉ.7 Cửu Chân có bảy huyện, Nhật Nam có năm; trong năm huyện của Nhật Nam có Tượng Lâm, cái tên ta sẽ gặp lại ở cuối một con đường biển.2

Còn huyện nào nằm ở đâu trên bản đồ hôm nay thì sách cổ giúp được rất ít. Lời chú đời Đường, khi cần chỉ chỗ, quy về địa danh đời Đường: huyện Cư Phong của Cửu Chân, Lý Hiền ghi là châu Ái thời ông.8 Mọi phép quy sang tỉnh huyện ngày nay là việc của giới nghiên cứu về sau.

Chín mươi hai nghìn hộ

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Điều làm Địa lý chí quý là nó không chỉ kể tên. Với mỗi quận, Ban Cố chép hai con số: số hộ và số khẩu, tức số nhà và số người. Mốc của cả bảng là năm Nguyên Thuỷ thứ hai đời Bình Đế, tức năm 2 sau Công nguyên, hơn một trăm năm sau khi lập quận.2

Ba dòng của ba quận phía nam như sau.

Giao Chỉ: chín mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi hộ, bảy trăm bốn mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi bảy khẩu.

Cửu Chân: ba mươi lăm nghìn bảy trăm bốn mươi ba hộ, một trăm sáu mươi sáu nghìn không trăm mười ba khẩu.

Nhật Nam: mười lăm nghìn bốn trăm sáu mươi hộ, sáu mươi chín nghìn bốn trăm tám mươi lăm khẩu.2

Hán thư không cộng giúp. Cộng ba dòng lại thì được một trăm bốn mươi ba nghìn sáu trăm bốn mươi ba hộ, chín trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm ba mươi lăm khẩu — gần một triệu người.2

Phép cộng thứ hai còn lạ hơn. Riêng số khẩu của Giao Chỉ nhiều hơn sáu quận còn lại của đất Việt cộng lại: sáu quận kia gộp hết chỉ được sáu trăm hai mươi sáu nghìn không trăm năm mươi ba khẩu. Nam Hải, quận có , kinh đô cũ của Nam Việt, chỉ có chín mươi tư nghìn hai trăm năm mươi ba khẩu, chưa bằng một phần bảy Giao Chỉ.2

Đặt vào cả đế quốc thì lại khác. Cuối thiên, Ban Cố tổng kết cõi Hán đời Bình Đế: một trăm lẻ ba quận quốc, hơn mười hai triệu hai trăm nghìn hộ, gần năm mươi chín triệu sáu trăm nghìn khẩu. Rồi ông hạ một câu: nhà Hán cực thịnh vậy. Ba quận phía nam chiếm chưa tới hai phần trăm số khẩu ấy.2

Con số ấy đếm cái gì

Đời sau nhớ lại

Chuyện đời sau ghi nhớ và sử dụng câu chuyện này — văn bản, lễ nghi, tranh luận hôm nay.

Đây là con số trong sổ sách của một triều đình. Câu hỏi tự nhiên: sổ ấy đếm người thật, hay chỉ đếm những ai phải đóng thuế?

Giới nghiên cứu có bàn chuyện này. Năm 1979, Stephen O'Harrow, trong một bài đối chiếu sử liệu nhà Hán với khảo cổ, dựa chủ yếu vào phân tích của Hans Bielenstein về các cuộc kiểm kê dân số Trung Hoa. Theo đó, bình quân mỗi hộ trên toàn cõi Hán là bốn phẩy bảy người. O'Harrow cho rằng chính con số rất bình thường ấy là dấu hiệu ta đang cầm trong tay một cuộc kiểm kê thật, chứ không chỉ là sổ thuế.9

Rồi tới chỗ lệch. Chia số khẩu cho số hộ của Giao Chỉ thì ra khoảng tám người một hộ. O'Harrow, theo Bielenstein, ghi con số của vùng cư dân Việt cổ mà ông khảo sát là gần tám, cao nhất đế quốc; chỉ vài vùng đông dân không phải người Hán khác, như Vân Nam hay Triều Tiên, tiến gần tới đó. Ông đưa ra một giả thuyết để giải thích: dân ở đây gần như hoàn toàn không phải người Hán, và có thể sống chung đông người trong một nhà hơn — ông dẫn hình những ngôi nhà trên đồ đồng Đông Sơn. Đó là một lời giải thích, chưa phải điều sử liệu chép.9

Làm cùng phép chia cho hai quận kia thì Cửu Chân và Nhật Nam chỉ chừng bốn người rưỡi một hộ, không khác mặt bằng chung.2 Cái lạ nằm ở Giao Chỉ.

Bản đồ mật độ dân số năm 2 của Bielenstein, theo O'Harrow thuật lại, còn cho một hình ảnh khác: châu thổ sông Hồng là vùng đông dân nhất của đế quốc Hán ở phía nam sông Dương Tử, chỉ Tứ Xuyên và đồng bằng Hoa Bắc mới có mật độ sánh được. Kết luận của O'Harrow là cuộc kiểm kê năm 2 cho một mảnh thông tin độc lập, củng cố cả kết quả khảo cổ lẫn các văn bản khác.9

Cũng phải nói rõ giới hạn. Ở đây ta chỉ đọc Bielenstein qua lời O'Harrow, và lập luận ấy là của năm 1979. Giới nghiên cứu hôm nay tin bảng số này tới đâu thì cần những công trình mới hơn mà bài này chưa đọc được.9

Một trăm bốn mươi năm sau, Giao Chỉ mất số

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Còn một bảng thứ hai, cũng nằm trong phần chí quận huyện của Tư Mã Bưu, ghi tình hình đời Thuận Đế nhà Đông Hán, khoảng năm 140.6

Ở đó Cửu Chân có bốn mươi sáu nghìn năm trăm mười ba hộ, hai trăm linh chín nghìn tám trăm chín mươi tư khẩu. Nhật Nam có mười tám nghìn hai trăm sáu mươi ba hộ, một trăm nghìn sáu trăm bảy mươi sáu khẩu. Cả hai đều đông hơn con số của năm 2.6

Còn Giao Chỉ thì văn bản truyền lại chỉ ghi mười hai thành, rồi đi thẳng vào danh sách huyện. Chỗ lẽ ra là số hộ số khẩu bỏ trống; quận Uất Lâm cũng vậy.6 Nghĩa là ai đưa ra một con số dân Giao Chỉ thời Đông Hán thì con số ấy không lấy từ bảng này, và cần được hỏi là lấy từ đâu.

Con đường biển bắt đầu từ Nhật Nam

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Nhật Nam ít người nhất trong ba quận. Nhưng tên nó đứng ở đầu một đoạn văn lạ trong Địa lý chí.

Sách viết: từ đồn ải Nhật Nam, Từ Văn, Hợp Phố đi thuyền chừng năm tháng thì tới nước Đô Nguyên. Lại bốn tháng thuyền tới nước Ấp Lô Một. Hơn hai mươi ngày thuyền nữa tới nước Thầm Ly. Đi bộ hơn mười ngày tới nước Phu Cam Đô Lô. Từ đó thêm hơn hai tháng thuyền mới tới nước Hoàng Chi. Đường không đo bằng dặm, mà bằng tháng.2

Đi trên đường ấy là ai? Sách chép có viên dịch trưởng, thuộc Hoàng Môn, cùng những người ứng mộ ra biển mua minh châu, bích lưu ly, đá lạ, vật lạ, mang theo vàng và các thứ lụa mà đi.2

Sách còn chép một chuyến có tên có tuổi. Khoảng niên hiệu Nguyên Thuỷ, Vương Mãng phụ chính, muốn phô uy đức, bèn tặng hậu cho vua Hoàng Chi, khiến vua ấy sai sứ dâng một con tê ngưu sống. Rồi sách tả đường về: từ Hoàng Chi đi thuyền chừng tám tháng tới Bì Tông, thêm tám tháng nữa thì tới địa giới Nhật Nam, Tượng Lâm.2

Hoàng Chi hay Bì Tông ứng với nơi nào ngày nay thì Hán thư không giúp; sách chỉ cho số tháng trên thuyền. Nhưng điểm đi và điểm về đều mang tên Nhật Nam.2

Dưới đất thì sao

Khảo cổ tìm thấy

Dấu vết vật chất đào được dưới đất.

Sách cho tên huyện và con số. Đất có cho gì tương ứng không? Với những nguồn bài này đã đọc, câu trả lời còn mỏng.

O'Harrow, viết cuối thập niên 1970, nêu loại dấu tích hiển nhiên nhất mà ta phải thấy nếu người Hán có mặt đáng kể: mộ gạch xây ngầm, có gò đất đắp bên trên. Loại mộ ấy có ở chính Trung Quốc thời Tây Hán, và có ở Việt Nam trong các giai đoạn Bắc thuộc về sau. Nhưng với thời Nam Việt còn cai trị, tức trước năm 111 trước Công nguyên, ông ghi rằng tới lúc ấy chưa ngôi nào lộ ra; đồ trong mộ bản địa phần lớn làm tại chỗ, bằng vật liệu tại chỗ, theo kiểu tại chỗ.10

Đó là tình trạng tư liệu tính tới năm ông viết. Khảo cổ đã đào thêm nhiều từ đó, nên không nên đọc câu ấy như hiện trạng hôm nay.10

Một tin gần hơn. Cuối năm 2024, một bản tin tiếng Anh của Thông tấn xã Việt Nam đưa tin đợt khai quật ở một thành cổ tại Bắc Ninh, bản tin gọi là thành cổ Luy Lâu, thu được hơn hai nghìn ba trăm mảnh khuôn đúc trống đồng, trong đó có khuôn ngoài của mặt trống với hoa văn đầy đủ. Nhưng đó là bản tin chứ không phải báo cáo khảo cổ, và nó không cho niên đại của các mảnh khuôn.11 Nối một toà thành đang đào với cái huyện Luy Lâu mà sách xưa gọi là trị sở quận Giao Chỉ là việc của báo cáo khảo cổ, không phải của một cái tên trong bản tin.

Nên lúc này, điểm tựa chắc nhất cho ba quận phía nam vẫn là mấy dòng của Ban Cố: ba cái tên, hai mươi hai huyện, sáu con số, và một con đường biển đo bằng tháng.2

Tập sau: Tích Quang, Nhâm Diên, Tô Định.

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Hán thư

    Bộ sử nhà Tây Hán của Ban Cố; chép bài sớ do chính Lưu An ký tên kể cuộc chiến ở đất Việt gọn hơn hẳn sách của ông, và chép số người Âu Lạc ra hàng năm 111 trước Công nguyên. · quyển 95, Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên truyện, chính văn — câu lập chín quận

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  2. Hán thư

    Bộ sử nhà Tây Hán của Ban Cố; chép bài sớ do chính Lưu An ký tên kể cuộc chiến ở đất Việt gọn hơn hẳn sách của ông, và chép số người Âu Lạc ra hàng năm 111 trước Công nguyên. · quyển 28, Địa lý chí, chính văn — phần đất Việt, bảng hộ khẩu các quận và lời tổng kết cuối thiên

    Dùng cho: Sử cũ chépDùng cho: Đời sau nhớ lạiDùng cho: Khảo cổ tìm thấyVề đoạn văn

  3. Hán thư

    Bộ sử nhà Tây Hán của Ban Cố; chép bài sớ do chính Lưu An ký tên kể cuộc chiến ở đất Việt gọn hơn hẳn sách của ông, và chép số người Âu Lạc ra hàng năm 111 trước Công nguyên. · quyển 64 hạ, truyện Giả Quyên Chi, chính văn — bài sớ năm 46 trước Công nguyên và chiếu của Nguyên Đế

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  4. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 24, Mã Viện liệt truyện, chính văn — lời của Mã Viện

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  5. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · quyển 24, Mã Viện liệt truyện, lời chú của Lý Hiền đời Đường

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  6. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · Quận quốc chí phần năm — phần chí của Tư Mã Bưu đời Tấn ghép vào bộ sách, gồm cả các dòng chú kèm tên quận

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  7. Thuỷ kinh chú

    Bộ sách chú giải sông ngòi của Trung Hoa, giữ lại nhiều đoạn trích từ sách đã mất, trong đó có Giao Châu ngoại vực ký. · quyển 37 — đoạn dẫn lại sách Giao Châu ngoại vực ký đã mất

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  8. Hậu Hán thư

    Chính sử Trung Hoa chép về nhà Đông Hán, nguồn sớm nhất ghi việc Mã Viện lấy trống đồng Lạc Việt đem đúc lại. · lời chú của Lý Hiền đời Đường về huyện Cư Phong

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  9. O'Harrow 1979 — Từ Cổ Loa tới khởi nghĩa Hai Bà Trưng

    Bài bình duyệt đối chiếu thư tịch với khảo cổ, nêu nghịch lý niên đại của thuyết An Dương Vương là con vua Ba Thục và mô tả thành Cổ Loa vào cuối thập niên bảy mươi. · trang 156–157, dẫn phân tích của Bielenstein

    Dùng cho: Đời sau nhớ lạiVề đoạn văn

  10. O'Harrow 1979 — Từ Cổ Loa tới khởi nghĩa Hai Bà Trưng

    Bài bình duyệt đối chiếu thư tịch với khảo cổ, nêu nghịch lý niên đại của thuyết An Dương Vương là con vua Ba Thục và mô tả thành Cổ Loa vào cuối thập niên bảy mươi. · trang 150–151

    Dùng cho: Khảo cổ tìm thấyVề đoạn văn

  11. Việt Nam News, 24/12/2024 — hơn hai nghìn ba trăm mảnh khuôn đúc trống ở thành cổ Luy Lâu

    Bản tin tiếng Anh của Thông tấn xã Việt Nam về đợt khai quật ở thành cổ Luy Lâu, Bắc Ninh. Là báo chí chứ không phải báo cáo khảo cổ, và không cho niên đại của các mảnh khuôn.

    Dùng cho: Khảo cổ tìm thấyVề đoạn văn