Nhân vật
Tư Mã Thiên
Người soạn Sử ký, khoảng năm 91 TCN, khi Nam Việt mất chưa đầy hai mươi năm. Thiên Nam Việt liệt truyện và lời bàn cuối thiên của ông là bản chép gần thời về nước ấy.
Hồ sơ
- Vai trò
- Người soạn Sử ký, dành hẳn một thiên cho nước Nam Việt; sách soạn khoảng năm 91 TCN, khi Nam Việt mất chưa đầy hai mươi năm1
Tiểu sử
Sử cũ chép
Người chép còn sống cùng thời với những người từng thấy nước Nam Việt, nên thiên của ông có tên người, lời thư, mốc năm, có cả lời tự bào chữa của Triệu Đà. Nhưng chính văn của ông không chép chuyện Triệu Đà đánh Âu Lạc. Trong lời bàn cuối thiên, về Âu Lạc ông viết đúng bốn chữ: Âu Lạc đánh lẫn nhau, Nam Việt lung lay — tức Âu Lạc đánh lẫn nhau, chứ không nói Nam Việt đánh Âu Lạc.1
Lời bàn cuối thiên Nam Việt mở đầu bằng đúng sáu chữ: Uý Đà làm vua, gốc là do Nhâm Ngao. Đọc kỹ chính văn thì ý định lập quốc không phải của Triệu Đà, mà của một người sắp chết trao lại cho ông; lời bàn không để chuyện ấy trôi qua. Lời bàn khép lại bằng chính cuộc chiến năm 111 TCN: về sau mất nước, điềm báo khởi từ người con gái họ Cù; Lữ Gia giữ cái trung nhỏ, khiến Đà không còn người nối dõi. Rồi ông chê Lâu Thuyền kiêu ngạo mà lầm lạc, khen Phục Ba nhân hoạ mà thành phúc, và kết: sự xoay vần của thành với bại, ví như sợi dây bện.12
Đời sau nhớ lại
Không phải mọi chữ trong bản Sử ký in ngày nay đều là của ông. Câu chuyện quen thuộc về Lạc Vương, An Dương Vương và việc Uý Đà đánh phá An Dương Vương nằm trong lời chú Sách ẩn của Tư Mã Trinh, người đời Đường thế kỷ VIII, cách chính văn khoảng chín trăm năm. Ngay sau lời bàn của ông cũng in thêm một bài tán do Tư Mã Trinh soạn, dễ tưởng là phần tiếp theo của Tư Mã Thiên nhưng không phải — và bài tán ấy gọi Lữ Gia là hung ngược, trong khi Tư Mã Thiên viết rằng Lữ Gia giữ cái trung nhỏ.34
Được nhắc trong
Nguồn của trang này
Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn