Thời kỳ

Hồng Bàng và Văn Lang

Thời kỳ mở đầu theo truyền thuyết, từ họ Hồng Bàng tới nước Văn Lang của các vua Hùng — biết được qua truyện kể và qua hiện vật khảo cổ, không qua sử đương thời.

Hồ sơ

Tên khác
Sử cũ chép hai tên nước nối nhau trong thời kỳ này: Xích Quỷ đời Kinh Dương Vương, rồi Văn Lang từ khi người con trưởng của Lạc Long Quân được tôn làm Hùng Vương và đóng đô ở Phong Châu. Ngô Thì Sĩ từng hỏi Xích Quỷ là tên gì, mà lại đem làm tên nước123
Niên đại
Bảng niên biểu ở đầu bộ quốc sử ghi họ Hồng Bàng kéo dài 2622 năm và nối ngay sau đó là nhà Thục từ năm 257 trước Công nguyên; trừ ngược lên thì ra mốc 2879 trước Công nguyên quen thuộc — một phép tính, không phải một dòng chép, vì chính văn chỉ có ba chữ năm Nhâm Tuất, năm thứ nhất. Sử thần triều Nguyễn ghi thẳng rằng tổng cộng 2622 năm ấy không biết lấy từ đâu ra. Việt sử lược lại đặt việc lập nước Văn Lang vào thời Chu Trang Vương, tức khoảng 696 tới 682 trước Công nguyên, lệch hơn 2000 năm456
Địa bàn
Sử cũ chép nước Văn Lang đông giáp biển Nam Hải, tây tới Ba Thục, bắc tới hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, trong nước chia làm mười lăm bộ. Cương Mục bác rằng đó là sử cũ khoa trương lời lẽ, vì mười lăm bộ do chính sử cũ liệt kê đều nằm trong vùng Giao Chỉ, Chu Diên trở vào, không một bộ nào ở phía bắc75
Chép sớm nhất
Văn bản sớm nhất còn lại nói tới các vua thời này không phải sách Việt Nam mà là Giao Châu ngoại vực ký, một cuốn địa chí khoảng thế kỷ thứ tư được chép lại trong Thuỷ kinh chú, và nó gọi họ là Lạc Vương. Truyện họ Hồng Bàng được chép chi tiết nhất trong Lĩnh Nam chích quái soạn khoảng thế kỷ mười bốn; còn Việt sử lược cuối đời Trần thì không nhắc tới họ Hồng Bàng một chữ nào826

Tổng quan

Sử cũ chép

Ba cuốn sách cổ cùng kể về buổi lập quốc, nhưng kể ba chuyện khác nhau. Lĩnh Nam chích quái, tập truyện dân gian soạn khoảng thế kỷ mười bốn, giữ bản kể đầy đủ nhất về bọc trăm trứng. Đại Việt sử ký toàn thư, do Ngô Sĩ Liên soạn xong khoảng năm 1479, chép Âu Cơ là con gái Đế Lai chứ không phải ái thiếp — đổi một chữ, chuyện đoạt vợ người thành một cuộc hôn nhân bình thường. Việt sử lược, bộ sử khuyết danh cuối đời Trần, sớm hơn cả trăm năm, thì không nhắc một chữ nào tới họ Hồng Bàng: không Kinh Dương Vương, không Lạc Long Quân, không Âu Cơ, không bọc trăm trứng, chỉ có một người lạ ở bộ Gia Ninh dùng ảo thuật khuất phục các bộ lạc rồi tự xưng làm vua.246

Mười tám đời vua chia cho 2622 năm thành ra mỗi đời trị vì trung bình hơn 145 năm. Các sử thần soạn Cương Mục không lảng tránh chỗ ấy: họ chép lại con số, rồi ghi ngay bên dưới một lời cẩn án rằng tổng cộng 2622 năm, không biết lấy từ đâu ra, nay hãy giữ lại đó để mà tra cứu. Người đời sau có một cách chữa: hiểu mười tám đời không phải mười tám ông vua mà mười tám chi, mỗi chi gồm nhiều đời nối nhau. Chỉ có điều cách hiểu ấy không nằm trong chữ Hán của sử cũ — cả Toàn thư lẫn Cương Mục đều chỉ dùng một chữ nghĩa là đời, không có chữ nào mang nghĩa chi hay nhánh.5

Gạt hết những chỗ sử quan triều Nguyễn đã gạch đi thì phần còn lại khá vững. Vào những thế kỷ đầu Công nguyên, người Trung Hoa chép rằng ở vùng đất này từng có một lớp thủ lĩnh bản địa gọi là Lạc Vương, có Lạc Hầu và Lạc Tướng giúp việc, và các Lạc Tướng ấy đeo ấn đồng dây thao xanh — tức là có phẩm phục, có thứ bậc, có tổ chức. Còn lại một hệ thống canh tác gắn với nước triều lên xuống, đủ đặc trưng để người ngoài phải đặt tên riêng cho nó: ruộng Lạc sinh ra dân Lạc, dân Lạc sinh ra Lạc Vương. Cái không còn lại là con số 2622 năm, tấm bản đồ chạy tới hồ Động Đình, và cái bọc trăm trứng.85

Đời sau nhớ lại

Một dòng vua bị chính quốc sử triều Nguyễn hạ xuống làm chú thích lại thành ngày lễ lớn nhất nước, và quá trình ấy nằm trong giấy tờ của một trăm năm gần đây, không phải trong sử cũ. Trước thế kỷ XX, đền Hùng do dân sở tại trông nom, giỗ Hùng Vương thứ mười tám vào ngày 11 tháng 3 âm lịch, đổi lại dân được miễn thuế ruộng, miễn sưu dịch và miễn đi lính. Năm 1917, Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc xin Bộ Lễ ấn định ngày mùng 10 tháng 3 làm lễ của nhà nước — đặt trước ngày giỗ của dân làng đúng một ngày. Sắc lệnh năm 1946, nghị định năm 2001 và đạo luật năm 2007 nối nhau mở rộng phạm vi ngày nghỉ.910

Bước cuối cùng diễn ra ở Paris. Tại kỳ họp thứ bảy của Uỷ ban liên chính phủ Công ước 2003, họp tại trụ sở UNESCO từ ngày 3 tới 7 tháng 12 năm 2012, hồ sơ số 00735 được thông qua bằng quyết định 7.COM 11.36, ghi danh tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Điều được ghi danh cần đọc cho đúng: UNESCO ghi danh tín ngưỡng thờ cúng, tức một tập quán của cộng đồng đang sống, không phải công nhận rằng các vua Hùng có thật. Nhà nhân học Oscar Salemink, người dự hội đền Hùng cả thập niên 1990 lẫn tháng 4 năm 2011, ghi rằng các ban nghi lễ địa phương không những bị tước phần việc mà còn mất cả một số đồ tế cũ.1112

Các tập

  1. Tập 1Lạc Long Quân – Âu Cơ6 phút
  2. Tập 2Kinh Dương Vương và dòng dõi Thần Nông7 phút
  3. Tập 3Mười tám đời Hùng Vương và nước Văn Lang6 phút
  4. Tập 4Giỗ tổ Hùng Vương: từ hội làng tới quốc lễ9 phút
  5. Tập 5Từ gốm tới đồng: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun6 phút
  6. Tập 6Văn hoá Đông Sơn7 phút
  7. Tập 7Trống đồng Đông Sơn11 phút
  8. Tập 8Thánh Gióng và giặc Ân5 phút
  9. Tập 9Sơn Tinh – Thuỷ Tinh5 phút
  10. Tập 10Bánh chưng bánh giầy và Lang Liêu7 phút
  11. Tập 11Chử Đồng Tử và Mai An Tiêm10 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Lĩnh Nam chích quái

    truyện họ Hồng Bàng

    Về đoạn văn

  2. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 1, tờ 2a–3b

    Về đoạn văn

  3. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 1, các lời cẩn án và lời phê

    Về đoạn văn

  4. Việt sử lược

    quyển thượng, đoạn Quốc sơ diên cách

    Về đoạn văn

  5. Giao Châu ngoại vực ký

    dẫn lại trong Thuỷ kinh chú quyển 37

    Về đoạn văn