Tập 3Thời kỳ Hồng Bàng và Văn Lang

Mười tám đời Hùng Vương và nước Văn Lang

Mười tám đời vua kéo dài hơn hai nghìn sáu trăm năm, một nước rộng tới hồ Động Đình, và một cái tên có thể vốn không phải là Hùng. Chính sử triều Nguyễn đã soi từng chỗ đó.

2 lớp · 4 nguồn · Giọng đọc AI

Truyền thuyết kể

Chuyện truyền miệng, về sau được chép vào sách — không phải sự kiện đã kiểm chứng.

Truyền thuyết chép rằng con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ được tôn lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu. Ngôi vua truyền được mười tám đời, đời nào cũng gọi là Hùng Vương.1

Nước ấy, theo sử cũ, đông giáp biển Nam Hải, tây tới Ba Thục, bắc tới hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn. Trong nước chia làm mười lăm bộ. Quan văn gọi là Lạc Hầu, quan võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương.1

Đó là bản kể ai cũng thuộc. Và đó cũng là bản kể mà chính các sử thần triều Nguyễn đã ngồi soi lại từng chỗ, rồi ghi thẳng những chỗ không ổn vào sách.

Phép tính không khớp

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Sử cũ chép họ Hồng Bàng kéo dài 2622 năm, tính từ năm Nhâm Tuất tới đời Hùng Vương cuối cùng. Mười tám đời vua chia cho ngần ấy năm, thành ra mỗi đời trị vì trung bình hơn 145 năm.

Các sử thần soạn không lảng tránh chỗ này. Họ chép lại con số, rồi ghi ngay bên dưới một lời cẩn án: tổng cộng 2622 năm, không biết lấy từ đâu ra. Nay hãy giữ lại đó để mà tra cứu.2

Bốn chữ "không biết lấy từ đâu ra" là của chính sử quan triều Nguyễn, viết trong bộ quốc sử, về con số nền tảng của cả thời kỳ.

Người đời sau có một cách chữa: hiểu "mười tám đời" không phải mười tám ông vua, mà mười tám chi, mỗi chi gồm nhiều đời nối nhau. Cách hiểu ấy làm phép tính dễ thở hơn nhiều. Chỉ có điều nó không nằm trong chữ Hán của sử cũ: cả Toàn thư lẫn Cương Mục đều chỉ dùng một chữ, nghĩa là đời, và không có chữ nào mang nghĩa chi hay nhánh.2 Cách hiểu mười tám chi là lời giải của người hiện đại, không phải điều sách xưa nói.

Một nước rộng tới đâu

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Sử cũ nói nước Văn Lang tây tới Ba Thục, bắc tới hồ Động Đình. Gộp lại thì đó là một vùng trải khắp miền nam Trung Quốc ngày nay.

Cương Mục bác chuyện này, và bác bằng chính tài liệu của sử cũ. Các sử thần viết: hồ Động Đình nằm kẹp giữa hai hồ, thực ra ở phía bắc đất Bách Việt; Ba Thục thì còn cách một vùng nữa, không hề giáp nhau. Sử cũ khoa trương lời lẽ. Rồi họ đưa ra lý lẽ quyết định: huống chi mười lăm bộ mà sử cũ liệt kê ra, tất cả đều nằm trong vùng Giao Chỉ, Chu Diên trở vào, không một bộ nào ở phía bắc — đủ chứng tỏ lời kia là sai.2

Đây là lối lập luận rất sạch, và nó đến từ thế kỷ 19: nếu nước anh thật sự chạy tới hồ Động Đình, thì trong danh sách mười lăm bộ của chính anh phải có bộ nào nằm trên đó. Không có bộ nào cả.

Vua tên là Hùng, hay tên là Lạc

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Còn một câu hỏi nữa, và nó chạm vào chính cái tên.

Văn bản sớm nhất còn lại nói về các vị vua thời ấy không phải sách Việt Nam, mà là sách Trung Hoa. , một cuốn địa chí khoảng thế kỷ thứ tư, được chép lại trong bộ , viết: đất Giao Chỉ xưa khi chưa có quận huyện, ruộng đất ở đó là ruộng Lạc, ruộng ấy theo nước triều lên xuống mà cày cấy; dân ăn ruộng ấy nên gọi là dân Lạc; đặt ra Lạc Vương, Lạc Hầu coi các quận huyện; huyện thì phần nhiều đặt Lạc Tướng, Lạc Tướng đeo ấn đồng dây thao xanh.3

Đọc đoạn ấy, cái tên mọc lên từ ruộng. Ruộng Lạc sinh ra dân Lạc, dân Lạc sinh ra Lạc Vương. Một hệ thống tên gọi gắn chặt với cách canh tác theo con nước.

Nhưng có một truyền thống văn bản khác. Sách , được chép lại trong một bộ sách đời Tống, viết: đất Giao Chỉ khá màu mỡ, khí đất hùng mạnh, nên nay gọi ruộng ấy là ruộng Hùng, dân ấy là dân Hùng; có quân trưởng cũng gọi là Hùng Vương, có phụ tá cũng gọi là Hùng Hầu, chia đất ra đặt Hùng Tướng.4

Cùng một cấu trúc, cùng một bộ chức danh, chỉ khác đúng một chữ. Và bên chép chữ Hùng còn kèm theo lời giải nghĩa riêng của mình — khí đất hùng mạnh — chứ không giống một lỗi sao chép vô tình.

Chính Toàn thư cũng biết chuyện này. Ở đoạn nói về các chức quan thời Hùng Vương, Ngô Sĩ Liên chua rằng chữ Lạc Tướng về sau bị chép sai thành Hùng Tướng.1

Vậy nên câu chuyện quen thuộc — rằng Hùng Vương chẳng qua là Lạc Vương bị chép nhầm — có cơ sở, nhưng chưa phải toàn bộ sự thật. Hai chữ Lạc và Hùng viết gần giống nhau, rất dễ trượt bút. Nhưng cũng có sách chép chữ Hùng kèm nguyên một cách giải nghĩa. Nghĩa là hoặc người ta chép nhầm rồi tự nghĩ ra lời giải cho cái nhầm ấy, hoặc đã có sẵn hai cách gọi song song. Chưa ai kết luận được dứt khoát.

Lời phê của một ông vua

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Điều bất ngờ nhất trong Cương Mục không nằm ở lời sử quan, mà ở lời phê của nhà vua viết bên lề.

Khi đọc tới đoạn Âu Cơ sinh trăm trứng, vua Tự Đức phê: Kinh Thi có câu "thì là trăm con trai", nhưng đó chỉ là lời ca ngợi đông con thôi; xét thực ra cũng chưa đến thế. Huống chi lại là trăm cái trứng? Nếu quả như vậy thì khác gì cầm thú, còn có thể là người được nữa sao? Ngay chuyện nuốt trứng chim huyền điểu hay giẫm lên vết chân người khổng lồ cũng chưa quái đản đến thế. Cái này e cùng một loại hoang đường vô căn cứ với những chuyện mình rắn đầu người, đầu trâu.2

Ở một chỗ khác, các sử thần cũng viết rằng Đế Minh chưa từng đi tuần phương Nam, nên chuyện lấy nàng tiên là rất quái đản, hãy tạm giữ lại để truyền cái ngờ.2

Cần nói rõ để khỏi hiểu lầm: đây không phải một ông vua ghét bỏ tổ tiên mình. Đây là một ông vua đọc sử theo lối Nho học, đòi hỏi chuyện chép trong sách phải hợp lẽ thường. Và khi thấy không hợp, ông viết thẳng ra giấy, để lại cho người sau đọc.

Còn lại gì là chắc chắn

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Gạt hết những chỗ sử quan triều Nguyễn đã gạch đi, phần còn lại là gì?

Còn lại một điều khá vững: vào những thế kỷ đầu Công nguyên, người Trung Hoa chép rằng ở vùng đất này từng có một lớp thủ lĩnh bản địa, gọi là Lạc Vương hoặc Hùng Vương, có Lạc Hầu và Lạc Tướng giúp việc, và các Lạc Tướng ấy đeo ấn đồng dây thao xanh — tức là có phẩm phục, có thứ bậc, có tổ chức.3 Chi tiết ấn đồng dây thao xanh không phải chuyện thần tiên; đó là mô tả một bộ máy cai trị có thật.

Còn lại một hệ thống canh tác gắn với nước triều lên xuống, đủ đặc trưng để người ngoài phải đặt tên riêng cho nó.

Cái không còn lại là con số 2622 năm, là tấm bản đồ chạy tới hồ Động Đình, và là cái bọc trăm trứng.

Nhưng trước khi bỏ sách xuống mà đi tìm thứ người xưa để lại dưới đất, có một câu hỏi cần trả lời đã. Một dòng vua mà chính sử quan triều Nguyễn đã gạch khỏi chính sử, làm sao lại thành ngày lễ lớn nhất nước? Tập sau đi tìm câu trả lời trong giấy tờ của một trăm năm gần đây: giỗ tổ Hùng Vương, từ hội làng tới quốc lễ.

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Đại Việt sử ký toàn thư

    Bộ quốc sử đặt họ Hồng Bàng làm khởi đầu chính thức của lịch sử nước Việt. · Ngoại kỷ quyển 1

    Dùng cho: Truyền thuyết kểDùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  2. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Bộ quốc sử triều Nguyễn, đưa Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra khỏi dòng chính thống, hạ xuống làm chú thích. · Tiền biên quyển 1, các lời cẩn án và lời phê

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  3. Giao Châu ngoại vực ký

    Địa chí Trung Hoa cổ, bản gốc thất truyền; đoạn chép về ruộng Lạc, dân Lạc, Lạc Vương và Lạc Tướng còn lại nhờ Thuỷ kinh chú. · dẫn lại trong Thuỷ kinh chú quyển 37

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  4. Nam Việt chí

    Sách chí về phương Nam, bản gốc thất truyền; đoạn chép ruộng Hùng, dân Hùng và Hùng Vương còn lại qua sách đời Tống. · dẫn lại trong Thái Bình quảng ký quyển 482

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn