Nhân vật

Tư Mã Quang

Sử gia đời Tống, soạn bộ biên niên Tư trị thông giám, dâng năm 1084. Qua nhiều tập về thời Bắc thuộc, ông hiện ra như người chép lại các bản sử cũ hơn và có lựa chọn — có khi cố ý bỏ một chi tiết đã đọc, có khi đổi một chữ.

Hồ sơ

Niên đại
Thế kỷ XI; dâng bộ Tư trị thông giám năm 10841
Vai trò
Soạn bộ Tư trị thông giám; trong các tập đã đối chiếu, có chỗ ông cố ý bỏ một chi tiết đã đọc (chuyện Hắc Đế của Mai Thúc Loan), có chỗ đổi một chữ của nguồn cũ (chữ vơ vét của Trần thư thành tàn bạo, về Tiêu Tư), có chỗ lời văn gần trùng Trần thư mà ngày tháng lại khớp Lương thư234

Tiểu sử

Đời sau nhớ lại

Ở việc năm 248, Tư Mã Quang không chép người đàn bà nào. Ông tóm lại câu của Tam quốc chí: giặc Di ở Giao Chỉ, Cửu Chân đánh chiếm thành ấp; vua Ngô cử Lục Dận sang; Dận vào cõi, lấy ân tín hiểu dụ, người hàng hơn năm vạn nhà, cõi châu lại yên. Cùng triều Tống ấy, tới thế kỷ XI, sách tra cứu và sách địa chí đã có Triệu Ẩu, còn bộ sử biên niên của ông thì chưa.5

Ở việc Tiêu Tư làm thứ sử Giao Châu, Trần thư chép ông ta vì vơ vét hà khắc mà mất lòng người. Khoảng năm trăm năm sau sự việc, Tư Mã Quang viết lại câu ấy trong Thông giám: thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tư vì hà khắc tàn bạo mà mất lòng người. Chữ vơ vét đã thành chữ tàn bạo — một chữ nói về của cải, một chữ nói về cách đối xử với người. Từ đây sử Việt chép theo Thông giám: Đại Việt sử ký toàn thư chép câu này gần nguyên chữ ở năm 541, Cương mục cũng trích lại đúng câu ấy.6378

Ông cũng chép chuyện Tiêu Tư đút lót Lý Bí để thoát thân, nhưng đổi nơi Tiêu Tư chạy tới: Lương thư nói Việt Châu, Thông giám nói Quảng Châu, và các nguồn không đủ để chọn bên nào. Khi Tiêu Tư tâu rằng hai tướng Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng thông với giặc, dùng dằng không tiến, Thông giám chỉ chép là tâu; chữ vu — biến lời buộc tội thành lời vu cáo — do Đại Việt sử ký toàn thư thêm vào khi chép lại câu này, là phán đoán của sử thần đời Lê, không có trong câu của Tư Mã Quang.91011

Rõ nhất là việc Mai Thúc Loan năm 722. Trong bộ Khảo dị viết kèm để giải thích mình chọn bản nào, ông ghi lại lời truyện Dương Tư Húc: thủ lĩnh Mai Huyền Thành tự xưng Hắc Đế, cùng Lâm Ấp, Chân Lạp thông mưu, hãm phủ An Nam — rồi viết: nay theo Bản kỷ. Nghĩa là ông đã đọc cả những chuyện ấy và cố ý không đưa vào chính văn, dù không nói rõ Bản kỷ ông theo là bản nào. Chính văn của ông dùng một tên thứ ba, Mai Thúc Yên, và không có Hắc Đế, không có Lâm Ấp, không có quân số phía ông. Cũng trong Khảo dị, ông bác ngày tháng Tám Bính Tuất của cựu kỷ, vì tháng ấy không có ngày Bính Tuất.21

Được nhắc trong

  1. Tập 11Khởi nghĩa Mai Thúc Loan — Mai Hắc Đế11 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Tư trị thông giám

    quyển 212, Đường kỷ 28, năm Khai Nguyên thứ mười, chính văn

    Về đoạn văn

  2. Tư trị thông giám

    quyển 212, lời Khảo dị của Tư Mã Quang trích trong bản Hồ Tam Tỉnh âm chú, đối chiếu Thông giám khảo dị quyển 13 bản Tứ khố

    Về đoạn văn

  3. Tư trị thông giám

    quyển 158, Lương kỷ 14, năm Đại Đồng thứ bảy — chính văn, bản không kèm chú Hồ Tam Tỉnh

    Về đoạn văn

  4. Tư trị thông giám

    quyển 159, Lương kỷ 15 — chính văn, bản không có chú

    Về đoạn văn

  5. Tư trị thông giám

    quyển 75, năm Chính Thuỷ thứ chín — chính văn

    Về đoạn văn

  6. Trần thư

    quyển 1, Cao Tổ kỷ thượng — chính văn

    Về đoạn văn

  7. Đại Việt sử ký toàn thư

    Kỷ Tiền Lý, tờ 15a, năm Tân Dậu 541 — chính văn

    Về đoạn văn

  8. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 4, năm Tân Dậu — đoạn trích Thông giám trong phần chú

    Về đoạn văn

  9. Lương thư

    quyển 3, Vũ Đế kỷ hạ, các năm Đại Đồng thứ bảy đến thứ mười — chính văn

    Về đoạn văn

  10. Tư trị thông giám

    quyển 158, Lương kỷ 14 — chính văn, bản không có chú

    Về đoạn văn

  11. Đại Việt sử ký toàn thư

    Kỷ Tiền Lý, tờ 14b–15b — chính văn và lời chua nhỏ của Toàn thư

    Về đoạn văn