Địa danh

Lĩnh Nam

Vùng đất phía nam dãy Ngũ Lĩnh, đích đến của cuộc nam chinh nhà Tần. Các bản chép kể cuộc chiến ấy không cho biết vùng này trải xuống tới đâu.

Hồ sơ

Tên khác
Sử ký gọi đất bị lấy là Lục Lương; sử cũ giải nghĩa: người Lĩnh Nam ở đất núi, tính bướng bỉnh, nên gọi là Lục Lương — tên do kẻ khác đặt, nghĩa là đám cứng đầu ở vùng núi, không phải tên người Việt tự gọi mình12
Vị trí
Phía nam dãy Ngũ Lĩnh. Các bản chép kể cuộc chiến với nhà Tần không vạch ranh giới vùng này: sử cũ chỉ tả người Lĩnh Nam ở đất núi, và chép rằng sau khi ba quận đã lập, quân đồ đày do Nhâm Ngao và Triệu Đà đem sang được đóng giữ vùng Ngũ Lĩnh2
Loại hình
Một vùng đất mà nhà Tần chia thành ba quận — Quế Lâm, Tượng Quận và Nam Hải — rồi đưa những người bị đày ra đồn thú1
Niên đại
Ba quận được lập vào năm thứ 33 đời Tần Thuỷ Hoàng, tức 214 trước Công nguyên; Đại Việt sử ký toàn thư chép cùng việc ấy vào năm Đinh Hợi, năm thứ 44 đời An Dương Vương, và hai bộ sử khớp nhau ở mốc này12

Về nơi này

Sử cũ chép

Bộ chính sử gần thời Tần nhất dành cho việc lấy cả vùng này đúng một câu, và câu ấy còn phải chia chỗ với việc đuổi Hung Nô ở phía tây bắc: phát những kẻ từng trốn tránh, những kẻ ở rể và bọn lái buôn đi đánh lấy đất Lục Lương, đặt làm Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải, rồi đưa những người bị đày ra đồn thú. Hết. Không có tên chủ tướng, không có con số quân, không có một trận đánh nào — việc được chép như một việc hành chính đã xong.1

Cái tên trong câu ấy cũng đáng dừng lại. Đất bị lấy được gọi là Lục Lương, và đó không phải tên người Việt tự gọi mình: sử cũ giải nghĩa rằng người Lĩnh Nam ở đất núi, tính bướng bỉnh, nên gọi là Lục Lương. Nó là tên kẻ khác đặt cho, và nghĩa của nó là đám cứng đầu ở vùng núi. Vùng đất này, trong bản chép sớm nhất về nó, hiện ra qua hai thứ do người ngoài đặt: một cái tên mang nghĩa xấu và ba cái tên quận.21

Người chống lại nhà Tần ở đây là các nhóm Việt ở phía nam dãy Ngũ Lĩnh, trong đó có Tây Âu — khối người Việt ở vùng nay thuộc Quảng Tây, có vua là Dịch Hu Tống bị quân Tần giết. Trong cả đoạn văn kể cuộc chiến ấy không có một chữ nào về Âu Lạc, về Thục Phán, về Văn Lang hay về đất Giao Chỉ. Hai chữ Âu Lạc thì Sử ký có chép, nhưng ở các đoạn nói việc nhà Hán diệt Nam Việt năm 111 trước Công nguyên, hơn một thế kỷ sau; và ở một chỗ khác trong cùng quyển ấy, Tây Âu và Lạc còn được kể như hai khối tách nhau, đứng cùng hàng với Mân Việt.34

Đời sau nhớ lại

Bộ quốc sử đời Lê có chép con số năm mươi vạn, nhưng không gán cho đạo quân đánh xuống: nó gán cho quân đồ đày do Nhâm Ngao và Triệu Đà đem sang đóng giữ vùng Ngũ Lĩnh sau khi ba quận đã lập. Cùng một con số, ba bản chép đặt vào ba chỗ khác nhau — và chỗ nó đứng trong bản sử Việt là việc giữ đất, không phải việc lấy đất.2

Được nhắc trong

  1. Tập 1Quân Tần xuống phương Nam11 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Sử ký

    Tần Thuỷ Hoàng bản kỷ, năm thứ 33

    Về đoạn văn

  2. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 1, kỷ An Dương Vương

    Về đoạn văn

  3. Hoài Nam Tử

    thiên Nhân gian huấn

    Về đoạn văn

  4. Sử ký

    Nam Việt liệt truyện

    Về đoạn văn