Nhân vật

Mai Thúc Loan

Người cầm đầu một cuộc nổi dậy chống nhà Đường ở An Nam mà các bản kỷ xếp vào năm 722; người Việt ngày nay gọi ông là Mai Hắc Đế. Gần như mọi điều được biết về ông — tên, hiệu, nước liên kết, số quân — đến từ sử Trung Hoa chép hơn hai trăm năm sau, và các bản vênh nhau về tên, về tháng, nhất là về con số.

Hồ sơ

Tên khác
Ba tên qua các bản sử: Thúc Loan (bản kỷ Cựu Đường thư, Tân Đường thư và các sử Việt), Huyền Thành (truyện Dương Tư Húc trong Cựu Đường thư), Thúc Yên (Tư trị thông giám). Hiệu Hắc Đế: Cựu Đường thư nói ông tự xưng; Tân Đường thư chỉ viết hiệu là; một lời chú đời Nguyễn trong Cương mục lại nói người trong châu gọi ông vậy vì da đen1234567
Niên đại
Bản kỷ của cả hai bộ Đường thư, cùng Tư trị thông giám, xếp việc vào năm Khai Nguyên thứ mười, tức năm 722; hai truyện Dương Tư Húc chỉ nói đầu Khai Nguyên, không cho năm. Cựu Đường thư ghi tháng tám, Tân Đường thư ghi tháng bảy182
Vai trò
Bản kỷ Cựu Đường thư chỉ nói ông đánh vây châu huyện ở An Nam; theo truyện Dương Tư Húc trong cùng bộ sử, ông tự xưng Hắc Đế, thông mưu với Lâm Ấp và Chân Lạp, và đánh hãm được phủ An Nam — chuyện hãm phủ chỉ truyện này có12
Quê quán
Phần cương của Cương mục gọi ông là Mai Thúc Loan ở châu Hoan; lời chú của sách — không dẫn nguồn, cách sự kiện hơn một nghìn một trăm năm — nói ông người Mai Phụ, Thiên Lộc, châu Hoan, nay thuộc huyện Can Lộc, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh97
Kết cục
Truyện Dương Tư Húc trong Cựu Đường thư, dưới tên Huyền Thành, nói ông bị quan quân bắt, chém ngay trước trận, bè đảng bị giết hết, xác chất làm kinh quan; truyện trong Tân Đường thư dừng ở hai chữ đại bại, còn bản kỷ của bộ ấy ghi gọn làm phản, bị giết; Tư trị thông giám, dưới tên Thúc Yên, chép ông bị chém. Không bản nào nói ông chết ở đâu2384
Chép sớm nhất
Bản chép sớm nhất trong số đã mở cho việc này là Cựu Đường thư, soạn xong năm 945, hơn hai trăm năm sau ông1
Thờ tự
Cương mục chú: có đền ở xã Hương Lãm, huyện Nam Đường, xếp vào hàng đền đế vương các đời; Đại Nam thực lục (năm Minh Mạng thứ hai, 1821) có miếu Mai Hắc Đế ở xã Hương Lãm, Nghệ An, trong danh sách miếu đế vương được triều Nguyễn tế710

Tiểu sử

Sử cũ chép

Bản chép sớm nhất trong số đã mở, một câu trong bản kỷ Cựu Đường thư, chỉ là một bản tin: án sát sứ Lĩnh Nam Bùi Trụ Tiên báo lên rằng tặc soái An Nam là Mai Thúc Loan đánh vây châu huyện, triều đình sai Dương Tư Húc đi đánh. Không hiệu Hắc Đế, không quân số, không nước nào liên kết. Cái hiệu ấy, cùng việc thông mưu với Lâm Ấp, Chân Lạp và việc đánh hãm phủ An Nam, nằm trong truyện riêng của Dương Tư Húc ở thiên Hoạn quan truyện của cùng bộ sử — bản kể dài hơn, và kể khác.12

Một trăm mười lăm năm sau, truyện Dương Tư Húc trong Tân Đường thư làm mọi thứ lớn lên: ông dấy quân của ba mươi hai châu, ngoài kết với Lâm Ấp, Chân Lạp và thêm nước Kim Lân, quân xưng bốn mươi vạn. Trong các sử Trung Hoa đã mở cho việc này, cả ba chi tiết ấy chỉ có ở đây, và sách không nói lấy từ đâu. Trước con số bốn mươi vạn, nguyên văn dùng đúng chữ đã dùng cho hiệu Hắc Đế — chữ hiệu, nghĩa là xưng là, tiếng là — tức chính người chép đã đánh dấu đó là con số danh nghĩa, không phải con số có ai đếm. Phần bản kỷ của cùng bộ sách đặt việc vào tháng bảy, trong khi bản kỷ Cựu Đường thư ghi tháng tám.381

Tư Mã Quang đã đọc chuyện Hắc Đế, chuyện liên kết Lâm Ấp, Chân Lạp, chuyện hãm phủ, và cố ý không đưa vào chính văn Thông giám — lời Khảo dị của ông ghi rằng ông theo Bản kỷ, dù không nói rõ bản nào. An Nam chí lược của Lê Tắc, soạn khoảng năm 1335, và Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, năm 1479, đều chép quân xưng ba mươi vạn, không phải bốn mươi vạn; ba mươi hai châu và nước Kim Lân rơi mất. Toàn thư gọi viên đô hộ đi cùng Dương Tư Húc là Nguyên Sở Khách; về sau Cương mục chú rằng sử cũ chép chữ Nguyên là sai.11567

Đời sau nhớ lại

Sử thần triều Nguyễn biên Cương mục không tin những con số ấy. Họ kính xét: đời Khai Nguyên, An Nam đô hộ phủ cai quản mười hai châu, năm mươi chín huyện, đô hộ phủ cùng các châu Phong, Ái, Lục, Diễn chưa nghe có chỗ nào bị hãm mất, vậy Thúc Loan làm sao dấy được quân của ba mươi hai châu, quân xưng bốn mươi vạn? Họ trộm nghĩ ông chiếm giữ một châu, thế cũng nhỏ nhoi, còn Tư Húc, Sở Khách khoa trương thế giặc để cầu công thưởng. Lập luận ấy có chỗ hở: nó không nhắc tới câu đánh hãm phủ An Nam trong truyện Dương Tư Húc của Cựu Đường thư, câu đi ngược đúng lập luận rằng phủ chưa từng bị hãm.122

Quê cụ thể của ông, và một lời giải thích khác cho cái hiệu, được chép ở lời chú thế kỷ XIX của Cương mục, không dẫn nguồn: ông người Mai Phụ, châu Hoan; da đen nên người trong châu gọi là Hắc Đế — khác hẳn bản chép sớm nhất, nơi Cựu Đường thư nói ông tự xưng. Hai cách giải thích đứng cạnh nhau, và văn bản không cho cách chọn. Sớm hơn, năm 1821, Đại Nam thực lục đã có miếu Mai Hắc Đế ở Hương Lãm, Nghệ An, trong danh sách miếu đế vương triều Nguyễn tế. Người mà sử Trung Hoa gọi là tặc soái, và Toàn thư chép lại y chữ ấy, đến đầu thế kỷ XIX đã được một triều Việt đặt vào hàng đế vương.710

Được nhắc trong

  1. Tập 11Khởi nghĩa Mai Thúc Loan — Mai Hắc Đế11 phút
  2. Tập 12Khởi nghĩa Phùng Hưng — Bố Cái Đại Vương9 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Cựu Đường thư

    quyển 8, bản kỷ Huyền Tông thượng, năm Khai Nguyên thứ mười, tháng tám ngày Bính Tuất, chính văn

    Về đoạn văn

  2. Cựu Đường thư

    quyển 184, Hoạn quan truyện, truyện Dương Tư Húc, chính văn

    Về đoạn văn

  3. Tân Đường thư

    quyển 207, Hoạn giả truyện thượng, truyện Dương Tư Húc, chính văn

    Về đoạn văn

  4. Tư trị thông giám

    quyển 212, Đường kỷ 28, năm Khai Nguyên thứ mười, chính văn

    Về đoạn văn

  5. An Nam chí lược

    quyển 4, mục Chinh thảo vận hướng, chính văn

    Về đoạn văn

  6. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 5, kỷ Thuộc Tuỳ Đường, tờ 4b, năm Nhâm Tuất, chính văn

    Về đoạn văn

  7. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 4, năm Nhâm Tuất Khai Nguyên thứ mười, lời chú của sử thần triều Nguyễn

    Về đoạn văn

  8. Tân Đường thư

    quyển 5, bản kỷ Huyền Tông, năm Khai Nguyên thứ mười, tháng bảy ngày Bính Tuất, chính văn

    Về đoạn văn

  9. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 4, năm Nhâm Tuất Khai Nguyên thứ mười, phần cương

    Về đoạn văn

  10. Đại Nam thực lục

    Chính biên đệ nhị kỷ quyển 10, năm Minh Mạng thứ hai, lời chú danh sách miếu đế vương

    Về đoạn văn

  11. Tư trị thông giám

    quyển 212, lời Khảo dị của Tư Mã Quang trích trong bản Hồ Tam Tỉnh âm chú, đối chiếu Thông giám khảo dị quyển 13 bản Tứ khố

    Về đoạn văn

  12. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 4, năm Nhâm Tuất Khai Nguyên thứ mười, lời bàn kính xét của sử thần triều Nguyễn

    Về đoạn văn