Nhân vật

Lê Tắc

Tác giả An Nam chí lược, soạn khoảng năm 1335 ở Trung Quốc. Nhiều tập thời Bắc thuộc dẫn sách này: có chỗ nó chép theo đúng lời sử Trung Hoa, có chỗ nó là bản sớm nhất trong số đã mở mang một chi tiết mà sử Việt về sau dùng lại.

Hồ sơ

Niên đại
Thế kỷ XIV; An Nam chí lược soạn khoảng năm 1335, ở Trung Quốc1
Vai trò
Tác giả An Nam chí lược; ở việc dẹp Lý Bí, việc năm 602 và cuộc vây phủ năm 791, sách chép theo lời sử Trung Hoa — không có Triệu Quang Phục, không có Nhã Lang, và gọi người cầm đầu năm 791 là Đỗ Anh Hàn23

Tiểu sử

Đời sau nhớ lại

Về câu thề cột đồng Mã Viện, An Nam chí lược mở bằng hai chữ xưa truyền, rồi chép cột đồng gãy thì Giao Chỉ diệt, người Giao đi qua thì ném ngói đá vào. Tập về cột đồng đặt nó ở cuối một chuỗi: năm 1178, Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi mở bằng hai chữ nghe nói: người An Nam đi qua đều đặt một hòn đá, vì theo lời thề cột đồng trồi ra thì Giao Chỉ diệt; sang thế kỷ XIII, Phương dư thắng lãm chép chữ đã đổi thành cột đồng gãy thì người Giao diệt.456

Về Bà Triệu, ông xếp bà — dưới tên Triệu Ẩu — vào mục phản nghịch, cùng mục với Trưng Trắc và Lý Bí: con gái huyện Quân Ninh, Cửu Chân, vú dài ba thước, vắt ra sau lưng, cưỡi đầu voi đánh giặc; thứ sử Giao Châu giết đi. Trong các sách đã mở cho tập ấy, đây là chỗ sớm nhất có con số ba thước và chi tiết vắt ra sau lưng, đúng như bộ sử Việt về sau sẽ dùng. Đám trai trẻ của các bản trước đã biến mất, và lời kết nặng hơn: bản cũ nói viên thứ sử dẹp yên, bản này nói giết đi.7

Về Triệu Quang Phục, An Nam chí lược chép theo đúng lời sử Trung Hoa: đuổi tới động Khuất Lạo chém Lý Bí, đưa đầu về kinh, rồi dẹp nốt số quân còn lại đang vây Ái Châu. Đoạn ấy đi thẳng từ cái chết của Lý Bí sang việc dẹp tàn quân, không chừa chỗ nào cho một cuộc cầm cự trong đầm. Cùng với Việt sử lược, đây là hai bộ sách Việt thế kỷ XIV im lặng về ông, đúng như lời Toàn thư tự khai rằng sử cũ không chép.2

Về việc năm 602, An Nam chí lược chép theo đúng lời sử Tùy. Tập ấy đặt nó cạnh hai bộ sử Việt: Đại Việt sử ký toàn thư chép chuyện Nhã Lang vào chính văn nhưng lời án nói phần này lấy từ dã sử; Việt sử lược, bộ có trước, không có Đào Lang Vương, Nhã Lang hay kỷ Hậu Lý Nam Đế.289

Về Mai Thúc Loan, trong số sách đã mở, An Nam chí lược là bản sớm nhất có tên ông: cừ soái Mai Thúc Loan làm phản, hiệu là Hắc Đế, ngoài kết với Lâm Ấp, Chân Lạp, quân xưng ba mươi vạn, chiếm giữ An Nam. Ba mươi vạn, không phải bốn mươi vạn như Tân Đường thư; ba mươi hai châu và nước Kim Lân rơi mất. Phía nhà Đường vẫn là Dương Tư Húc cùng đô hộ Quang Sở Khách, theo đường cũ Mã Viện, phá tan quân giặc, đắp xác làm kinh quan. Khoảng một trăm bốn mươi năm sau, con số quân xưng ba mươi vạn trong Đại Việt sử ký toàn thư theo sách này, không theo Tân Đường thư.110

Về cuộc vây phủ năm 791, mục Triệu Xương của An Nam chí lược, xong năm 1335, vẫn viết theo sử Trung Hoa: gặp lúc tù trưởng An Nam là Đỗ Anh Hàn làm phản. Không có tên Phùng Hưng. Tập ấy dẫn sách này làm bằng chứng rằng không phải người Việt nào viết về năm 791 cũng dùng tên Phùng Hưng; trong các bộ sử đã đối chiếu, tên Phùng Hưng chỉ có ở Đại Việt sử ký toàn thư và Cương mục.3

Được nhắc trong

  1. Tập 11Khởi nghĩa Mai Thúc Loan — Mai Hắc Đế11 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. An Nam chí lược

    quyển 4, mục Chinh thảo vận hướng, chính văn

    Về đoạn văn

  2. An Nam chí lược

    quyển 4, mục Chinh thảo vận hướng — chính văn

    Về đoạn văn

  3. An Nam chí lược

    quyển 9, mục Triệu Xương, chính văn

    Về đoạn văn

  4. An Nam chí lược

    quyển 1, mục Cổ tích

    Về đoạn văn

  5. Lĩnh ngoại đại đáp

    quyển 10, mục Cột đồng

    Về đoạn văn

  6. Phương dư thắng lãm

    quyển 42, mục Khâm Châu

    Về đoạn văn

  7. An Nam chí lược

    quyển 15, mục Phản nghịch — bản Tứ khố

    Về đoạn văn

  8. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, đầu Kỷ Triệu Việt Vương, tờ 17b — lời án của người soạn, chữ nhỏ

    Về đoạn văn

  9. Việt sử lược

    quyển thượng, mục chép các đời quan cai trị, dưới tên Lưu Phương — chính văn

    Về đoạn văn

  10. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 5, kỷ Thuộc Tuỳ Đường, tờ 4b, năm Nhâm Tuất, chính văn

    Về đoạn văn