Tập 2Thời kỳ Nam Việt

Triệu Đà dựng nước Nam Việt

Một viên huyện lệnh nhà Tần dựng được một nước sống năm đời. Nhưng theo chính lời Tư Mã Thiên, ý định lập quốc không phải của ông — nó là lời trăng trối của người sắp chết trao quyền cho ông.

1 lớp · 2 nguồn · Giọng đọc AI

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Tập trước cho thấy bộ sử gần thời nhất không chép cảnh đánh phá An Dương Vương.

Vậy nó chép gì về ông?

Hoá ra rất nhiều. Và chân dung hiện ra khác hẳn cái tên "giặc phương Bắc" mà ta quen.1

Một cái tên bị đọc sai suốt nhiều đời

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Câu mở đầu thiên Nam Việt của gọn như một dòng khai lý lịch:

Vua Nam Việt là Uý Đà, người Chân Định, họ Triệu.1

Chữ ở đây không phải họ. Đó là chức quan — chức đô uý. Nhà chú đời Đường phải giảng lại cho rõ: Uý là chức, Đà là tên, họ là Triệu.2

Chân Định, theo lời chú, vốn là tên một quận, sau đổi thành huyện, ở đất Thường Sơn — tức vùng Hà Bắc Trung Quốc ngày nay.2

Nên phải nói thẳng ngay từ đầu: theo Sử ký, Triệu Đà là người phương Bắc, không phải người bản địa. Điều đó sẽ thành hạt nhân của cuộc tranh luận kéo dài bảy trăm năm mà tập sau sẽ kể.

Còn chức của ông thời Tần: huyện lệnh Long Xuyên, thuộc quận Nam Hải.1 Một viên quan cấp huyện, ở góc xa nhất của đế quốc.

Mười ba năm, hay sáu năm?

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Trước khi tới chuyện lập nước, có một con số đáng dừng lại, vì nó cho thấy cách người xưa đọc sử.

Sử ký chép: nhà Tần đã thôn tính thiên hạ, đánh dẹp đất Dương Việt, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, , đem những kẻ bị đày ra đó, ở lẫn với người Việt mười ba năm.1

Nhưng chính người chú Sử ký hồi thế kỷ thứ năm đã tính lại. Ông viết: từ khi Tần thôn tính thiên hạ đến năm thứ nhất đời Nhị Thế là mười ba năm; nhưng thôn tính thiên hạ tám năm rồi mới bình được đất Việt, nên đến năm thứ nhất Nhị Thế chỉ có sáu năm thôi.2

Đây là chỗ hiếm: lời chú công khai bắt bẻ chính văn, và bắt bẻ bằng phép trừ. Ai dùng con số mười ba năm thì nên biết rằng người chú sách đã ngờ nó từ một nghìn năm trăm năm trước.

Lời trăng trối trao cả một ý tưởng

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Đoạn quyết định của cả thiên truyện là một cảnh bên giường bệnh.

Nhà Tần sụp. Ở quận Nam Hải, viên đô uý ốm sắp chết, cho gọi viên huyện lệnh Long Xuyên là Triệu Đà tới. Sử ký chép trọn lời ông nói.

Ông kể tình hình phương Bắc: bọn Trần Thắng làm loạn, nhà Tần vô đạo, thiên hạ khổ vì nó; Hạng Vũ, Lưu Quý, Trần Thắng, Ngô Quảng ở các châu quận đều dấy binh tụ họp, tranh thiên hạ như hổ; Trung Quốc rối loạn, chưa biết đâu là yên, hào kiệt phản Tần lập nhau lên.

Rồi ông nói tới chỗ mình đang ngồi: Nam Hải hẻo lánh xa xôi, ta sợ binh giặc xâm lấn tới đây, ta muốn dấy binh chặn đứt con đường mới mở, tự phòng bị, đợi biến động của chư hầu — nhưng gặp lúc bệnh nặng.

Và đây là câu khai sinh một quốc gia:

Vả lại dựa vào núi hiểm, chắn bởi biển Nam Hải, đông tây mấy nghìn dặm, lại khá có người Trung nguyên giúp đỡ; đây cũng là chủ một châu vậy, có thể dựng nước được.1

Ông kết: các trưởng lại trong quận không ai đáng để bàn, nên gọi ông tới bảo cho biết.1

Tư Mã Thiên chốt lại: gốc là do Nhâm Ngao

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Đọc kỹ thì thấy điều này: ý định lập quốc không phải của Triệu Đà. Nó là của một người sắp chết, nhìn thấy cơ hội trong lúc đế quốc đổ, và trao lại cho người mình tin.

Tư Mã Thiên không để chuyện ấy trôi qua. Trong lời bàn cuối thiên, ông mở đầu bằng đúng sáu chữ:

Uý Đà làm vua, gốc là do Nhâm Ngao.1

Còn việc trao quyền diễn ra thế nào thì chính văn chép gọn: Nhâm Ngao trao cho Đà tờ thư, cho Đà làm thay việc đô uý quận Nam Hải. Nhưng lời chú đời Đường dẫn một nhà chú trước đó nói thẳng hơn: Nhâm Ngao giả tờ chiếu thư để cho Đà làm đô uý Nam Hải.2

Nếu đúng vậy thì nước Nam Việt bắt đầu bằng một tờ giấy giả.

Việc đầu tiên của người kế nhiệm là đóng cửa

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Nhâm Ngao chết. Sử ký chép hành động đầu tiên của Triệu Đà, và nó cho thấy ông hiểu rất nhanh mình vừa được trao cái gì.

Ông lập tức truyền hịch báo các cửa ải phía bắc: binh giặc sắp tới, mau chặn đường tụ binh giữ lấy.1

Rồi ông làm việc thứ hai, chậm hơn và lạnh hơn: dần dần theo pháp luật giết các trưởng lại do nhà Tần đặt, lấy phe cánh mình thay vào các chức quận huyện.1

Hai việc ấy đi liền nhau và nói rõ một điều: ông không nổi dậy chống nhà Tần. Ông chờ nhà Tần chết hẳn, đóng cửa lại, rồi dọn sạch người của triều đình cũ ở bên trong.

Đến khi nhà Tần đã bị phá diệt, ông mới đánh chiếm luôn Quế Lâm và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.1

Ba chữ đáng ghi nhớ trong câu ấy: tự lập. Không ai phong. Và đối tượng bị đánh chiếm là hai quận của nhà Tần, không phải một nước nào khác.

Tự đặt thuỵ hiệu cho mình khi đang sống

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Có một chi tiết nhỏ mà lời chú bắt được, và nó nói nhiều về con người ấy.

Hiệu ông tự xưng là Nam Việt Vũ Vương. Chữ "Vũ" là một thuỵ hiệu — thứ lẽ ra người sau đặt cho người trước khi đã chết.

Nhà chú thế kỷ thứ năm ghi lại nhận xét của một học giả trước đó: lúc còn sống đã lấy chữ Vũ làm hiệu, không theo lối xưa.2

Một viên huyện lệnh ở góc xa đế quốc, tự phong vương, rồi tự đặt luôn cả thuỵ hiệu cho mình. Ông không đợi ai công nhận cả.

Cái mà chính văn không cho

Sử cũ chép

Điều sách sử thời phong kiến ghi lại.

Cũng cần nói rõ những chỗ Sử ký không nói, vì đó là chỗ đời sau hay điền thêm.

Sách không cho năm lập nước. Chính văn chỉ viết "nhà Tần đã bị phá diệt" rồi mới tới việc tự lập. Ai ghi một con số năm cụ thể là đang tính ra, không phải đang trích.1

Sách cũng không nói thẳng rằng ông đóng đô ở Phiên Ngung. Phiên Ngung là nơi Nhâm Ngao chỉ ra để dựng nước, và là nơi quân Hán vây đánh khi diệt nước này — nên việc đó suy ra được từ văn cảnh, nhưng suy ra thì phải nói là suy ra.1

Đó là mức chính xác mà bộ sử gần thời nhất cho phép. Ít hơn ta mong, nhưng chắc hơn nhiều so với những gì được đắp thêm về sau.

Tập sau là cuộc tranh luận bắt đầu từ chính chỗ này: một người phương Bắc lập một nước ở phương Nam thì với sử Việt, ông là vua khai quốc hay là kẻ xâm lược — Nhà Triệu: chính thống hay ngoại xâm.

Nguồn của tập này

Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Sử ký

    Bộ sử Trung Hoa gần thời Tần nhất còn lại; chép việc lập ba quận ở Lĩnh Nam bằng một câu, và chỉ nhắc Đồ Thư trong một bài tấu của người đời Hán. · Nam Việt liệt truyện, chính văn

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn

  2. Sử ký

    Bộ sử Trung Hoa gần thời Tần nhất còn lại; chép việc lập ba quận ở Lĩnh Nam bằng một câu, và chỉ nhắc Đồ Thư trong một bài tấu của người đời Hán. · Nam Việt liệt truyện, lời chú của Bùi Nhân và Tư Mã Trinh

    Dùng cho: Sử cũ chépVề đoạn văn