Tập 1Thời kỳ Thời tiền sử
Người cổ trên đất Việt
Trước vua Hùng rất lâu, trên dải đất này đã có người ở. Họ không để lại chữ viết, chỉ để lại răng, đá và vỏ ốc — cùng vài câu hỏi khảo cổ học đến nay vẫn chưa khép.
Khảo cổ tìm thấy
Dấu vết vật chất đào được dưới đất.
Lịch sử nước ta thường được kể từ vua Hùng. Nhưng trước đó rất lâu, trên dải đất này đã có người sinh sống. Họ không để lại một dòng chữ nào. Thứ họ để lại là mấy chiếc răng lẫn trong đất hang, là những hòn cuội bị ghè vỡ, là lớp vỏ ốc dày hàng mét. Gần một thế kỷ nay, các nhà khảo cổ nhặt từng mảnh ấy lên và cố đọc xem chúng kể chuyện gì. Có chỗ họ đồng ý với nhau, có chỗ cãi nhau tới giờ chưa xong — và những chỗ chưa xong cũng đáng kể lại y như phần đã chắc.1
Mấy chiếc răng trong hang đá Lạng Sơn
Khảo cổ tìm thấy
Dấu vết vật chất đào được dưới đất.
Hang Thẩm Khuyên nằm ở Lạng Sơn, gần biên giới phía bắc. Giữa những năm sáu mươi, người ta đào vào lớp trầm tích trong hang và gặp răng của loài vượn người. Đó không phải phát hiện dễ đọc: phần lớn răng trong hang là của đười ươi, nên muốn nói chắc điều gì thì trước hết phải dựng tiêu chí phân biệt cho từng chiếc một. Phân loại xong, trong đám răng ấy có cả răng người đứng thẳng lẫn răng của loài vượn khổng lồ đã tuyệt chủng.2 Một bài tổng quan về khảo cổ đá cũ Việt Nam cho biết số răng người đứng thẳng thu được ở Thẩm Khuyên và hang Thẩm Hai bên cạnh là mười chiếc, nằm lẫn với xương cốt của những loài nay không còn nữa như gấu trúc khổng lồ và voi răng kiếm, một loài voi cổ đã tuyệt chủng.3
Tuổi của lớp đất ấy được đo bằng hai cách: cộng hưởng thuận từ điện tử trên men răng và trầm tích, cùng chuỗi urani trên nhũ đá trong hang. Kết quả cho thấy tầng chứa hoá thạch chính lắng đọng vào khoảng bốn trăm bảy mươi lăm nghìn năm trước.2 Con số nghe rất gọn, nhưng nên nghe kèm sai số của nó: cộng trừ một trăm hai mươi lăm nghìn năm.3 Với thời gian xa như vậy, khảo cổ học nói "khoảng" chứ hiếm khi nói "đúng bằng".
Núi Đọ và một câu hỏi chưa khép
Khảo cổ tìm thấy
Dấu vết vật chất đào được dưới đất.
Năm 1960, ở Thanh Hoá, một đoàn khảo cổ đang khai quật khu mộ táng thời đại đồ đồng thì để ý tới những hòn đá nằm rải trên sườn Núi Đọ gần đó. Núi Đọ là quả núi đá bazan đứng bên một nhánh của sông Mã. Người nghiên cứu di chỉ này là Boriskovsky, nhà khảo cổ Liên Xô sang làm cố vấn, cũng là người đào tạo lứa chuyên gia đá cũ đầu tiên của Việt Nam. Khoảng một nghìn năm trăm hiện vật đá được nhặt về trong những năm đầu; ông phân tích kỹ hơn tám trăm hiện vật, thấy đại đa số là mảnh tước, còn rìu tay kiểu Acheulean điển hình chỉ có hai chiếc.3
Ông kết luận Núi Đọ thuộc sơ kỳ thời đại đá cũ. Nhưng ngay trong sách của mình, chính ông cũng ghi lại rằng mình còn nghi ngờ về niên đại của những hiện vật đó.3
Mối nghi ấy về sau lớn dần. Năm 1986, các nhà khảo cổ Việt Nam tìm thấy ngay trên núi Đọ một xưởng chế tác của thời đại đồ đồng, và những chiếc rìu đá ra lò từ xưởng này trông rất giống rìu tay thời đá cũ.3 Vấn đề nằm ở chỗ công cụ hai mặt hình dáng như vậy được người ta làm ở Nam Á và Đông Á ròng rã hàng trăm nghìn năm, nên chỉ nhìn hình dáng mà đoán tuổi thì rất dễ nhầm. Bài tổng quan năm 2021 viết thẳng rằng đó chính là lý do khiến một chuyên gia dày dạn như Boriskovsky vẫn xếp nhầm những công cụ muộn này vào sơ kỳ đá cũ; nhiều nhà nghiên cứu đã đặt lại vấn đề từ một bài phản biện công bố năm 1990.3
Xin nói rõ thêm một chỗ vênh. Rất nhiều bài phổ thông tiếng Việt ghi Núi Đọ có tuổi ba mươi đến bốn mươi vạn năm. Chúng tôi không tìm được nghiên cứu khoa học nào đưa ra con số ấy cho riêng Núi Đọ, nên tập này không nhắc lại nó như một điều đã biết chắc.
Trước Hoà Bình là Ngườm và Sơn Vi
Khảo cổ tìm thấy
Dấu vết vật chất đào được dưới đất.
Bước sang hậu kỳ đá cũ, dấu vết con người trên đất Việt rõ hơn hẳn. Khảo cổ học Việt Nam ghi nhận hai kỹ nghệ trước thời Hoà Bình: kỹ nghệ Ngườm, ước chừng bốn mươi nghìn tới hai mươi ba nghìn năm trước, thiên về công cụ làm từ mảnh tước; và văn hoá Sơn Vi, ước chừng ba mươi nghìn tới mười một nghìn năm trước, ghè công cụ từ những hòn cuội lấy dưới lòng sông.4
Tên gọi Sơn Vi lấy theo địa danh nơi phát hiện. Theo tư liệu công bố trong nước, di tích gồm hai địa điểm thuộc xã Sơn Vi, Phú Thọ, phát hiện năm 1968 và khai quật năm 1969, thu hơn một nghìn hiện vật.5 Giữa Sơn Vi và Hoà Bình không có lằn ranh dứt khoát: có một quãng hai nhóm cùng tồn tại song song, và nhà khảo cổ chủ trì phần tổng kết này từng viết riêng một bài về thời kỳ quá độ ấy.4
Sống trong hang đá
Khảo cổ tìm thấy
Dấu vết vật chất đào được dưới đất.
Cái tên "văn hoá Hoà Bình" ra đời từ những cuộc khai quật hang do nhà khảo cổ người Pháp Madeleine Colani tiến hành ở miền Bắc trong thập niên hai mươi. Đại hội các nhà Tiền sử học Viễn Đông họp tại Hà Nội tháng 1 năm 1932 ra nghị quyết định danh nền văn hoá này theo mô tả của bà.1
Đến nay đã biết một trăm bốn mươi lăm di chỉ Hoà Bình trên đất Việt Nam, và gần như tất cả đều nằm trong hang hoặc dưới mái đá vôi — chỉ đúng hai di chỉ ngoài trời. Riêng vùng Hoà Bình và Thanh Hoá đã chiếm một trăm lẻ sáu di chỉ, xếp thành từng cụm dọc các thung lũng.1
Công cụ đặc trưng của họ là hòn cuội sông ghè một mặt, bên cạnh là chày, bàn nghiền và đồ làm từ xương, sừng, vỏ trai. Từ đó có thể hình dung phần nào bữa ăn. Họ săn thú nhỏ và vừa, bắt nhiều loài khác nhau nhưng mỗi loài chỉ vài con, tức là không dồn sức tận diệt loài nào. Họ nhặt ốc núi và ốc suối về ăn rồi vứt vỏ ngay chỗ ở, năm này qua năm khác, để lại những tầng vỏ ốc dày ba tới năm mét trong một số hang.1
Vậy họ đã biết trồng trọt chưa? Từ thập niên bảy mươi đã có giả thuyết cho rằng Đông Nam Á là một trong những nơi thuần hoá cây trồng sớm nhất thế giới, dựa vào hạt và quả tìm được ở vài hang bên Thái Lan. Bản tổng kết gần một thế kỷ nghiên cứu Hoà Bình ở Việt Nam trả lời thận trọng: tới nay chưa có bằng chứng chắc chắn nào cho thấy cư dân Hoà Bình ở Việt Nam đã thuần hoá hay trồng trọt.1 Chiều sâu thời gian trong các hang thì choáng ngợp: ở Hang Con Moong tại Thanh Hoá, tầng văn hoá dày hơn mười mét, mẫu lấy ở đáy cho niên đại tới bảy mươi tư nghìn năm trước.1
Ba cái tên hay một dải liên tục
Khảo cổ tìm thấy
Dấu vết vật chất đào được dưới đất.
Người học sử ở ta quen với một chuỗi gọn gàng: Sơn Vi, rồi Hoà Bình, rồi Bắc Sơn, ba nền văn hoá nối nhau. Khảo cổ học Việt Nam hiểu "văn hoá" theo nghĩa hẹp, tức là dấu vết vật chất do một nhóm cư dân cụ thể để lại.1 Giới nghiên cứu phương Tây gần đây nhìn khác: càng nhiều di chỉ được đào và càng nhiều niên đại các-bon phóng xạ được đo thì ranh giới giữa ba cái tên ấy càng mờ, nên hợp lý hơn cả là coi chúng như một dải kỹ nghệ chế tác đá ở Bắc Việt Nam kéo dài khoảng từ hai mươi bảy nghìn tới tám nghìn năm trăm năm trước.6
Ngay câu hỏi quê hương của văn hoá Hoà Bình ở đâu cũng chưa ngã ngũ. Phần lớn nhà khảo cổ Việt Nam coi Việt Nam là cái nôi, vì đây là nơi có nhiều di chỉ và hiện vật tiêu biểu nhất.1 Trong khi đó, chương sách tổng hợp kia thuật lại như một dữ kiện nền: kỹ nghệ kiểu Hoà Bình đã có mặt ở Vân Nam bên Trung Quốc từ quãng bốn mươi ba nghìn năm trước, rồi mới lan dần xuống phía nam.6
Vậy nên tập mở đầu xin dừng ở chỗ thành thật. Chắc chắn là đã có người đứng thẳng sống trên đất này từ hàng trăm nghìn năm trước, và đã có những cộng đồng săn bắt hái lượm sống lâu dài trong hang đá phía bắc. Chưa chắc chắn là tuổi thật của nhiều hiện vật nổi tiếng, ranh giới giữa các nền văn hoá, và nơi kỹ nghệ Hoà Bình bắt đầu. Tập sau rời khảo cổ để bước sang truyền thuyết, với chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ.
Nguồn của tập này
Mỗi đoạn trong bài dẫn về một tài liệu dưới đây. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn
Hoa Binh Culture in Vietnam after Nearly a Century since Its Discovery
Dùng cho: Khảo cổ tìm thấyVề đoạn văn
Dated co-occurrence of Homo erectus and Gigantopithecus from Tham Khuyen Cave, Vietnam
Dùng cho: Khảo cổ tìm thấyVề đoạn văn
Palaeolithic and Bifacial Industries of Vietnam in Comparison with Those in East, Southeast, and South Asia
Dùng cho: Khảo cổ tìm thấyVề đoạn văn
Hoa Binh Culture in Vietnam after Nearly a Century since Its Discovery
Dùng cho: Khảo cổ tìm thấyVề đoạn văn
Báo Nhân Dân — Di tích khảo cổ Sơn Vi và Gò Mun ở Phú Thọ được xếp hạng quốc gia
Dùng cho: Khảo cổ tìm thấyVề đoạn văn
Stone Industries of Mainland and Island Southeast Asia
Dùng cho: Khảo cổ tìm thấyVề đoạn văn