Địa danh
Hoà Bình
Tỉnh miền núi phía tây bắc Hà Nội, nơi đặt tên cho văn hoá Hoà Bình sau các cuộc khai quật hang những năm 1920.
Hồ sơ
- Vị trí
- Miền Bắc Việt Nam; cùng với Thanh Hoá tạo thành vùng tập trung di chỉ Hoà Bình, xếp thành từng cụm dọc các thung lũng1
- Loại hình
- Vùng hang và mái đá vôi: trong 145 di chỉ Hoà Bình đã biết trên đất Việt Nam, gần như tất cả nằm trong hang hoặc dưới mái đá, chỉ đúng hai di chỉ ngoài trời; riêng Hoà Bình và Thanh Hoá chiếm 106 di chỉ1
- Niên đại
- Giới nghiên cứu phương Tây xếp dải kỹ nghệ chế tác đá ở Bắc Việt Nam, trong đó có Hoà Bình, vào khoảng 27.000 tới 8.500 năm trước; cũng theo hướng ấy, kỹ nghệ kiểu Hoà Bình đã có mặt ở Vân Nam bên Trung Quốc từ quãng 43.000 năm trước2
- Phát hiện
- Cái tên văn hoá Hoà Bình ra đời từ những cuộc khai quật hang do nhà khảo cổ người Pháp Madeleine Colani tiến hành ở miền Bắc trong thập niên 1920; Đại hội các nhà Tiền sử học Viễn Đông họp tại Hà Nội tháng 1 năm 1932 ra nghị quyết định danh nền văn hoá này theo mô tả của bà1
Về nơi này
Khảo cổ tìm thấy
Cái tên văn hoá Hoà Bình ra đời từ những cuộc khai quật hang do nhà khảo cổ người Pháp Madeleine Colani tiến hành ở miền Bắc trong thập niên 1920. Đại hội các nhà Tiền sử học Viễn Đông họp tại Hà Nội tháng 1 năm 1932 ra nghị quyết định danh nền văn hoá này theo mô tả của bà. Chữ 'văn hoá' ở đây mang nghĩa hẹp mà khảo cổ học Việt Nam vẫn dùng, tức là dấu vết vật chất do một nhóm cư dân cụ thể để lại.1
Đến nay đã biết 145 di chỉ Hoà Bình trên đất Việt Nam, và gần như tất cả đều nằm trong hang hoặc dưới mái đá vôi — chỉ đúng hai di chỉ ngoài trời. Riêng vùng Hoà Bình và Thanh Hoá đã chiếm 106 di chỉ, xếp thành từng cụm dọc các thung lũng. Đó là vùng tập trung dày nhất trong toàn bộ bức tranh di chỉ Hoà Bình ở Việt Nam, và cũng là vùng mà các cụm di chỉ bám theo thung lũng rõ nhất.1
Công cụ đặc trưng của cư dân ở đây là hòn cuội sông ghè một mặt, bên cạnh là chày, bàn nghiền và đồ làm từ xương, sừng, vỏ trai. Từ đó có thể hình dung phần nào bữa ăn: họ săn thú nhỏ và vừa, bắt nhiều loài khác nhau nhưng mỗi loài chỉ vài con, tức là không dồn sức tận diệt loài nào. Họ nhặt ốc núi và ốc suối về ăn rồi vứt vỏ ngay chỗ ở, năm này qua năm khác, để lại những tầng vỏ ốc dày ba tới năm mét trong một số hang.1
Hai câu hỏi lớn vẫn để ngỏ. Thứ nhất là trồng trọt: từ thập niên 1970 đã có giả thuyết rằng Đông Nam Á là một trong những nơi thuần hoá cây trồng sớm nhất, nhưng bản tổng kết gần một thế kỷ nghiên cứu Hoà Bình trong nước trả lời thận trọng: tới nay chưa có bằng chứng chắc chắn nào cho thấy cư dân Hoà Bình ở Việt Nam đã thuần hoá hay trồng trọt. Thứ hai là quê hương: phần lớn nhà khảo cổ Việt Nam coi Việt Nam là cái nôi, vì đây có nhiều di chỉ và hiện vật tiêu biểu nhất, trong khi giới nghiên cứu phương Tây thuật lại rằng kỹ nghệ kiểu Hoà Bình đã có mặt ở Vân Nam từ quãng 43.000 năm trước rồi lan xuống phía nam.12
Được nhắc trong
Nguồn của trang này
Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn