Thời kỳ
Thời tiền sử
Quãng thời gian trước khi có chữ viết trên đất Việt, chỉ còn lại dấu vết vật chất do khảo cổ học tìm ra.
Hồ sơ
- Niên đại
- Tầng hoá thạch chính ở hang Thẩm Khuyên lắng đọng khoảng 475.000 năm trước, sai số cộng trừ 125.000 năm; hậu kỳ đá cũ có kỹ nghệ Ngườm khoảng 40.000–23.000 năm trước và văn hoá Sơn Vi khoảng 30.000–11.000 năm trước; giới nghiên cứu phương Tây gộp cả dải kỹ nghệ chế tác đá ở Bắc Việt Nam vào khoảng 27.000–8.500 năm trước1234
Tổng quan
Khảo cổ tìm thấy
Những người sống trên dải đất này trước thời vua Hùng không để lại một dòng chữ nào. Thứ họ để lại là mấy chiếc răng lẫn trong đất hang, những hòn cuội bị ghè vỡ và lớp vỏ ốc dày hàng mét. Gần một thế kỷ nay, các nhà khảo cổ nhặt từng mảnh ấy lên và cố đọc xem chúng kể chuyện gì; có chỗ họ đồng ý với nhau, có chỗ cãi nhau tới giờ chưa xong. Những chỗ chưa xong cũng đáng kể lại y như phần đã chắc, vì chính chúng cho biết giới hạn thật của những gì đọc được từ đất.5
Dấu vết sớm nhất là mấy chiếc răng trong hang đá Lạng Sơn. Giữa những năm 1960, người ta đào vào lớp trầm tích hang Thẩm Khuyên và gặp răng của loài vượn người; phần lớn răng trong hang là của đười ươi, nên muốn nói chắc điều gì thì trước hết phải dựng tiêu chí phân biệt cho từng chiếc một. Phân loại xong, trong đám răng ấy có cả răng người đứng thẳng lẫn răng của loài vượn khổng lồ đã tuyệt chủng. Tính cả hang Thẩm Hai bên cạnh, số răng người đứng thẳng thu được là mười chiếc, nằm lẫn với xương cốt gấu trúc khổng lồ và voi răng kiếm.12
Bước sang hậu kỳ đá cũ, dấu vết con người trên đất Việt rõ hơn hẳn. Khảo cổ học Việt Nam ghi nhận hai kỹ nghệ trước thời Hoà Bình: kỹ nghệ Ngườm, ước chừng 40.000 tới 23.000 năm trước, thiên về công cụ làm từ mảnh tước; và văn hoá Sơn Vi, ước chừng 30.000 tới 11.000 năm trước, ghè công cụ từ những hòn cuội lấy dưới lòng sông. Giữa Sơn Vi và Hoà Bình không có lằn ranh dứt khoát: có một quãng hai nhóm cùng tồn tại song song, và nhà khảo cổ chủ trì phần tổng kết này từng viết riêng một bài về thời kỳ quá độ ấy.3
Cư dân Hoà Bình sống trong hang và dưới mái đá vôi. Công cụ đặc trưng của họ là hòn cuội sông ghè một mặt, bên cạnh là chày, bàn nghiền và đồ làm từ xương, sừng, vỏ trai. Họ săn thú nhỏ và vừa, bắt nhiều loài khác nhau nhưng mỗi loài chỉ vài con, tức là không dồn sức tận diệt loài nào; họ nhặt ốc núi và ốc suối về ăn rồi vứt vỏ ngay chỗ ở, năm này qua năm khác, để lại những tầng vỏ ốc dày ba tới năm mét trong một số hang. Còn trồng trọt thì tới nay chưa có bằng chứng chắc chắn nào cho thấy cư dân Hoà Bình ở Việt Nam đã thuần hoá hay canh tác.5
Chuỗi Sơn Vi – Hoà Bình – Bắc Sơn quen thuộc với người học sử ở ta dựa trên cách hiểu hẹp của khảo cổ học Việt Nam về chữ 'văn hoá', tức dấu vết vật chất do một nhóm cư dân cụ thể để lại. Giới nghiên cứu phương Tây gần đây nhìn khác: càng nhiều di chỉ được đào và càng nhiều niên đại các-bon phóng xạ được đo thì ranh giới giữa ba cái tên ấy càng mờ, nên hợp lý hơn cả là coi chúng như một dải kỹ nghệ chế tác đá ở Bắc Việt Nam kéo dài khoảng từ 27.000 tới 8.500 năm trước.54
Các tập
Nguồn của trang này
Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn