Nhân vật

Bà Triệu

Người đàn bà mà các sách về sau gắn với năm 248 ở Cửu Chân, dù bộ sử gần thời nhất chép cuộc nổi dậy năm ấy mà không nêu tên một người đàn bà nào. Cái tên Triệu Ẩu, đôi guốc vàng, con voi đều đến từ những sách khác, phần lớn đã mất và chỉ còn qua trích dẫn.

Hồ sơ

Tên khác
Triệu Ẩu trong các sách chữ Hán; Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, ở bản in lại, sửa thành Triệu thị Chinh; cái tên Triệu Thị Trinh quen dùng hôm nay không có trong văn bản nào đã mở12
Niên đại
Tam quốc chí chép loạn ở Giao Chỉ, Cửu Chân năm Xích Ô thứ mười một, tức năm 248, mà không nêu tên người đàn bà nào; đoạn Giao Châu ký về bà không có năm, thứ duy nhất nối bà với năm 248 là tên người dẹp, Lục Dận. Toàn thư chép bà ở năm Mậu Thìn, với chữ "sau đó" đặt bà vào một đợt thứ hai314
Vai trò
Theo Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ, bà không lấy chồng, vào núi tụ tập bọn cướp rồi đánh quận, thường đi guốc có vàng, và bị thứ sử Lục Dận dẹp yên; Nam Việt chí có thêm chi tiết bà thường ngồi trên đầu voi mà đánh15
Quê quán
Huyện Quân An, quận Cửu Chân theo Giao Châu ký; Nam Việt chí cũng chép huyện Quân An; An Nam chí lược chép là huyện Quân Ninh, Cửu Chân156
Kết cục
Giao Châu ký chép thứ sử Lục Dận dẹp yên; An Nam chí lược chép thứ sử Giao Châu giết đi; lời chú Toàn thư dẫn Giao Chỉ chí thêm chi tiết chết đi thành thần167
Chép sớm nhất
Tam quốc chí chép cuộc nổi dậy năm 248 nhưng không nêu tên bà; cái tên Triệu Ẩu có trong hai sách đã mất: Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ (có từ trước năm 527, còn nhờ Thái Bình ngự lãm soạn năm 983 trích lại) và Nam Việt chí (còn nhờ Sơ học ký soạn năm 727 trích lại)3815
Thờ tự
Phần chú của Cương mục triều Nguyễn chép: nay đền thờ ở xã Phú Điền, huyện Mỹ Hoá, Thanh Hoá9

Tiểu sử

Sử cũ chép

Bộ sử được viết gần năm 248 nhất là Tam quốc chí của Trần Thọ; đoạn về năm ấy nằm trong truyện ngắn của Lục Dận, phụ sau truyện người anh là Lục Khải. Có một cuộc nổi dậy ở Giao Chỉ, Cửu Chân, một viên thứ sử được cử sang dẹp, con số người ra hàng — nhưng không có tên một người đàn bà nào. Người duy nhất phía nổi dậy có tên là Hoàng Ngô, một cừ soái ở Cao Lương, không phải ở Cửu Chân.3

Cái tên xuất hiện ở một loại sách khác hẳn: sách chép về một địa phương. Lưu Hân Kỳ viết một cuốn Giao Châu ký, nay đã mất nhưng có từ trước năm 527; đoạn về người đàn bà còn lại nhờ bộ loại thư Thái Bình ngự lãm soạn năm 983 trích lại: Triệu Ẩu là con gái huyện Quân An, quận Cửu Chân, vú dài mấy thước, không lấy chồng, vào núi tụ tập bọn cướp rồi đánh quận, thường đi guốc có vàng, tư thông với trai trẻ; thứ sử Lục Dận dẹp yên. Đó là giọng người đứng phía chính quyền tả một kẻ nổi loạn. Đoạn văn không có năm nào; thứ duy nhất nối bà với năm 248 là tên người dẹp.81

Hình ảnh người đàn bà ngồi trên voi ra trận không có trong đoạn của Lưu Hân Kỳ. Nó đến từ Nam Việt chí, cũng là sách đã mất, còn một đoạn nhờ bộ loại thư Sơ học ký đời Đường, soạn năm 727: Triệu Ẩu đi guốc răng bịt vàng, thường ngồi trên đầu voi mà đánh. Mảnh này không nói tới vú dài, trai trẻ hay Lục Dận. Khoảng năm 980, Thái Bình hoàn vũ ký gộp các mảnh làm một; vú dài thành năm thước, và tên viên thứ sử đổi một chữ thành Lục Duẫn — có thể vì kiêng huý, nhưng sách không nói thế, đó chỉ là phỏng đoán.510

Thế kỷ XIV, An Nam chí lược của Lê Tắc xếp Triệu Ẩu vào mục phản nghịch cùng Trưng Trắc và Lý Bí, chép quê là huyện Quân Ninh, vú dài ba thước vắt ra sau lưng, và nói thứ sử Giao Châu giết đi chứ không chỉ dẹp yên. Toàn thư đặt tên bà trong kỷ thuộc Ngô như một dòng phụ, sau khi Lục Dận đã dẹp yên lần đầu. Lời chú dẫn Giao Chỉ chí thêm chi tiết chết đi thành thần; lời chú ấy còn có một chữ chỉ áo vải thô, nên bản dịch hiện đại đọc thành chiếc áo ngắn màu vàng, trong khi mọi bản cũ hơn, ở đúng chỗ ấy, đều là giày hay guốc bịt vàng.647

Đời sau nhớ lại

Tầng cuối là Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim. Ở bản in lại đã mở, chính tác giả chú rằng các kỳ xuất bản trước để là Triệu Ẩu, nay xét nên để là Triệu thị Chinh. Ông mở phần kể bằng mấy chữ "Sử ta chép rằng", nhưng những gì theo sau — quê quán, gia cảnh, một câu nói, tuổi và cái chết của bà — không có trong bộ sử cũ nào đã mở, từ Toàn thư tới Cương mục, và ông không nêu tên sách. Cái tên Triệu Thị Trinh quen dùng hôm nay cũng không có trong văn bản nào đã mở, kể cả sách này.2

Được nhắc trong

  1. Tập 2Khởi nghĩa Bà Triệu (248)11 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Thái Bình ngự lãm

    quyển 371, đoạn dẫn Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ; đối chiếu các quyển 499 và 811 cùng lời ghi của bản gom lại đời Thanh

    Về đoạn văn

  2. Việt Nam sử lược

    mục Bà Triệu, trang 44–47 của bản quét Trung tâm Học liệu

    Về đoạn văn

  3. Tam quốc chí

    quyển 61, Ngô thư, truyện Lục Dận phụ sau truyện Lục Khải — chính văn

    Về đoạn văn

  4. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, Kỷ thuộc Ngô, tờ 3b–4a, bản khắc 1697 — chính văn và chú kép

    Về đoạn văn

  5. Sơ học ký

    quyển 8, mục Ái Châu — đoạn dẫn Nam Việt chí

    Về đoạn văn

  6. An Nam chí lược

    quyển 15, mục Phản nghịch — bản Tứ khố

    Về đoạn văn

  7. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 4, tờ 4a — lời chú dẫn Giao Chỉ chí

    Về đoạn văn

  8. Thuỷ kinh chú

    quyển 37 — nơi dẫn tên Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ

    Về đoạn văn

  9. Khâm định Việt sử thông giám cương mục

    Tiền biên quyển 3, năm Mậu Thìn — cương, mục và phần chú

    Về đoạn văn

  10. Thái Bình hoàn vũ ký

    quyển 171, mục Ái Châu

    Về đoạn văn