Nhân vật

Tần Thuỷ Hoàng

Vua nhà Tần, gồm thâu sáu nước năm 221 trước Công nguyên rồi đưa quân xuống Lĩnh Nam; sử chép việc lấy đất phương Nam chung một câu với việc đuổi Hung Nô ở phương Bắc.

Hồ sơ

Niên đại
Năm thứ 33 đời ông ứng với 214 trước Công nguyên — mốc Sử ký đặt việc lập ba quận ở Lĩnh Nam. Ông mất vào năm thứ 37; mục năm Tân Mão trong Toàn thư chua nhầm là Tần Thuỷ Hoàng năm thứ 17 trong khi chính dòng ấy chép việc ông mất12
Vai trò
Vua nhà Tần thời quân Tần xuống Lĩnh Nam. Sử ký chép ở mục năm thứ 33 đời ông việc phát những kẻ từng trốn tránh, những kẻ ở rể và bọn lái buôn đi đánh lấy đất Lục Lương, đặt làm Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải, rồi đưa những người bị đày ra đồn thú; cùng câu ấy chép việc đuổi Hung Nô ở phía tây bắc1
Kết cục
Đoạn Hoài Nam Tử kể cuộc nam chinh không dừng ở trận thua: đàn ông không được cày ruộng, đàn bà không được xe sợi, người gầy yếu chết gục trên đường, người bệnh không được nuôi, người chết không được chôn — rồi Trần Thắng nổi lên và nhà Tần mất thiên hạ; câu chốt là tai hoạ nằm ở chỗ phòng giặc Hồ mà lại ham cái lợi ở Việt3
Chép sớm nhất
Bộ chính sử gần thời Tần nhất chép ông là Sử ký của Tư Mã Thiên, phần Tần Thuỷ Hoàng bản kỷ; sử Việt chép cuộc nam chinh của ông vào kỷ An Dương Vương trong Đại Việt sử ký toàn thư42

Tiểu sử

Sử cũ chép

Bộ chính sử gần thời Tần nhất dành cho cả việc lấy đất phương Nam đúng một câu, và chép nó như một việc hành chính đã xong, đặt chung hàng với việc đuổi Hung Nô ở tây bắc. Đội quân trong câu ấy cũng không phải tinh binh: phát những kẻ từng trốn tránh, những kẻ ở rể và bọn lái buôn. Hai chữ đáng dừng lại là kẻ ở rể — trong luật nhà Tần đó là hạng bị khinh, con trai không có của phải đến ở nhà vợ; bản dịch Toàn thư giải nghĩa thẳng rằng những người ấy bị xem khác nào cái tật, cái bướu ở mình, là những cục thịt thừa. Đây là những người mà nhà nước Tần muốn tống đi xa.12

Bản chép cho cuộc chiến ấy đủ con số lại không phải sách sử. Hoài Nam Tử mở đoạn về đất Việt bằng lý do đi đánh, và lý do rất cụ thể: nhà Tần ham sừng tê, ngà voi, lông chim trả và ngọc trai của đất Việt — không phải mở mang bờ cõi, không phải dẹp loạn, mà là hàng hoá. Con số năm mươi vạn thì xuất hiện hai lần trong cùng đoạn ấy, một lần cho việc đắp trường thành chống Hung Nô ở phía bắc, một lần cho Đồ Thư ở phía nam; mà chính con số phía bắc thì Sử ký chép khác hẳn: Mông Điềm đem ba mươi vạn quân.35

Đời sau nhớ lại

Đại Việt sử ký toàn thư chép cuộc nam chinh vào kỷ An Dương Vương, năm Đinh Hợi, năm thứ bốn mươi tư đời vua, và chua thêm: năm thứ ba mươi ba đời Tần Thuỷ Hoàng — khớp đúng mốc Sử ký đặt việc lập ba quận. Một bản dịch tiếng Việt khá phổ biến lại in thành năm thứ ba mươi mốt, 216 trước Công nguyên, lệch hai năm; nhưng can chi trong nguyên văn tự bác điều đó, vì An Dương Vương lên ngôi năm Giáp Thìn, năm thứ bốn mươi tư sau đó là Đinh Hợi, và Đinh Hợi ứng với 214 trước Công nguyên. Cái lệch hai năm giữa sử Việt và sử Trung Hoa ở chỗ này không có thật: nó là lỗi in của một bản dịch.21

Được nhắc trong

  1. Tập 1Quân Tần xuống phương Nam11 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn

  1. Sử ký

    Tần Thuỷ Hoàng bản kỷ, năm thứ 33

    Về đoạn văn

  2. Đại Việt sử ký toàn thư

    Ngoại kỷ quyển 1, kỷ An Dương Vương

    Về đoạn văn

  3. Hoài Nam Tử

    thiên Nhân gian huấn

    Về đoạn văn

  4. Sử ký

    Tần Thuỷ Hoàng bản kỷ

    Về đoạn văn

  5. Sử ký

    Tần Thuỷ Hoàng bản kỷ, năm thứ 32

    Về đoạn văn