Nhân vật
Lang Liêu
Người con thứ mười tám của Hùng Vương, được thần báo mộng dạy lấy gạo nếp làm bánh chưng bánh giầy rồi được truyền ngôi; chỉ có trong tập truyện dân gian, không có trong quốc sử.
Hồ sơ
- Niên đại
- Bản cổ không xếp ông vào đời vua Hùng thứ mấy, chỉ định vị bằng bối cảnh sau khi đã phá xong quân Ân; con số vua Hùng thứ sáu và thứ bảy là do đời sau thêm cho khớp với gia phả mười tám đời1
- Vai trò
- Người con thứ mười tám trong hai mươi hai người con trai của vua Hùng; được thần nhân báo mộng dạy lấy gạo nếp làm bánh để cuối năm dâng lên tiên vương1
- Gia tộc
- Mẹ phận hàn vi, lại mất trước vì bệnh, người giúp việc hai bên ít ỏi nên chàng khó lo cho nổi; sau khi chàng được truyền ngôi, hai mươi mốt anh em chia nhau đi giữ các phên trấn1
- Kết cục
- Vua nếm bánh, thấy vừa miệng không chán, hơn hẳn món của các con khác, khen ngợi hồi lâu rồi cho ông đứng thứ nhất và truyền ngôi1
Tiểu sử
Truyền thuyết kể
Sau khi đã phá xong quân Ân, trong nước vô sự, vua họp các quan lang — tức hai mươi hai người con trai — rồi ra đề. Lời đề không phải tìm món ngon chung chung mà rõ hơn thế: ai làm được đúng ý ta, tìm được của ngon vật lạ, cuối năm dâng lên tiên vương để tỏ hết đạo hiếu, thì được truyền ngôi. Hai điều kiện, không phải một. Người hiệu chính sách hồi thế kỷ XV đọc ra đúng chỗ ấy: trong bài tựa năm 1492, Vũ Quỳnh điểm qua từng truyện, và về truyện này ông chỉ viết gọn một câu, rằng truyện bánh chưng là khen việc hiếu dưỡng.14
Lời thần nhân trong mộng ít màu thần thánh hơn nhiều so với cách ta thường hình dung. Thần không ban phép lạ; thần nói một câu về lương thực: trong các vật của trời đất, không gì quý với người hơn gạo, gạo nuôi người, người nhờ đó mà khoẻ, ăn mãi không chán, không vật nào đứng trước nó được. Rồi mới dặn lấy gạo nếp làm bánh, hoặc vuông hoặc tròn, để tượng hình trời đất, lá bọc ngoài, giữa đặt vị ngon, để ngụ ý công cha mẹ sinh dưỡng. Một vị thần hiện ra trong mộng để nói rằng thứ quý nhất trên đời là gạo — đó là giấc mộng của một xứ trồng lúa.1
Trong sách cổ, bánh giầy không tên là bánh giầy. Thứ bánh gói lá xanh hình vuông, trong đặt vị ngon, được giải thích là để tượng trời đất bao bọc muôn vật, và vì đem nấu cho chín nên gọi là bánh chưng — chưng đây nghĩa là nấu, hấp. Thứ kia là gạo nếp đồ chín, giã cho nhuyễn, nặn thành hình tròn để tượng trời, nên gọi là bạc trì bính; chữ trong sách không có chữ nào ứng với tiếng giầy. Lối giảng vuông là đất, tròn là trời mà ta quen cũng chỉ đúng một nửa: nguyên văn nói bánh tròn tượng trời, còn bánh vuông thì tượng trời đất bao bọc muôn vật.1
Đoạn kết của bản cổ thì không bản kể phổ thông nào ngày nay còn giữ. Ngay sau khi truyền ngôi, sách chép hai lời giải nghĩa: vì bánh gắn với tên Lang Liêu nên tục dùng bánh ấy trong các dịp lễ tết được gọi là Tiết Liệu; và hai mươi mốt người anh em chia nhau đi giữ các phên trấn, về sau các tướng tranh nhau làm trưởng, mỗi người dựng hàng rào gỗ để che chắn — từ đó mới có những tiếng sách, thôn, trang, phường để gọi chỗ người ta ở. Sách cũng chép rằng từ đấy mỗi dịp lễ tết người ta lấy thứ bánh ấy phụng sự cha mẹ, thiên hạ bắt chước theo cho đến nay; cho đến nay ở đây là khoảng thế kỷ XIV.1
Sử cũ chép
Với những truyện khác, quốc sử còn chép vài câu rồi phê rằng chuyện quái đản; với truyện này thì không có lời phê nào, vì không có truyện nào để phê. Đọc hết quyển Ngoại kỷ thứ nhất của bộ quốc sử đời Lê, từ Kinh Dương Vương tới hết An Dương Vương, không có một chữ nào về ông hay hai thứ bánh; sang bộ quốc sử triều Nguyễn, phần Hùng Vương chỉ còn một đoạn phả hệ ngắn, cũng không có. Câu chuyện Tết quen nhất của người Việt chưa từng được đưa vào quốc sử, mà vẫn sống rất tốt — tốt hơn nhiều truyện đã được chép vào sử.23
Được nhắc trong
Nguồn của trang này
Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn