Địa danh

Phùng Nguyên

Làng ở Phú Thọ, đặt tên cho nền văn hoá mở đầu thời đại kim khí ở Bắc Bộ: gốm bàn xoay mỏng, đồ đá tinh xảo, đã biết luyện đồng nhưng chưa có đồ đồng hoàn chỉnh.

Hồ sơ

Vị trí
Tên một làng ở Phú Thọ. Các di chỉ mang tên làng ấy phân bố khắp đồng bằng và miền núi Bắc Bộ, dày đặc nhất ở chỗ sông Hồng gặp sông Đà, quanh vùng Việt Trì1
Loại hình
Lớp sớm nhất trong mạch ba tầng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ; di chỉ để lại đồ đá, gốm bàn xoay và dấu vết luyện kim, nhưng chưa có một vật bằng đồng hoàn chỉnh nào trong tầng văn hoá1
Niên đại
Chưa ngã ngũ: một học giả nước ngoài xếp Phùng Nguyên vào khoảng 3000 tới 1500 trước Công nguyên, nhưng con số ấy không khớp với niên đại các-bon phóng xạ đo ở Tràng Kênh và Phùng Nguyên; phần lớn học giả Việt Nam nghiêng về mốc khởi đầu quanh 2000 trước Công nguyên, kéo dài chừng một nghìn năm2
Khai quật
Trong một ô khai quật mười mét nhân mười mét, người ta đếm được 356 lỗ cột còn in trong đất — dấu tích nhà dựng trên cọc2

Về nơi này

Khảo cổ tìm thấy

Thứ người Phùng Nguyên để lại trước hết là đá: rìu, bôn hình chữ nhật, đục và đồ trang sức, tất cả làm ở trình độ cao. Rồi đến gốm — nặn bằng bàn xoay, đất sét mịn pha cát mịn, thành mỏng, mặt ngoài đánh bóng, hoa văn là những hình học đối xứng: tam giác, vòng tròn, chữ S dựng đứng. Còn đồng thì phải nói cho chính xác, vì chỗ này hay bị kể vống lên. Ở các di chỉ Phùng Nguyên đúng là có tìm thấy dấu vết luyện kim, nhưng cho tới lúc hai nhà khảo cổ tổng kết lại thì chưa tìm được một vật bằng đồng hoàn chỉnh nào trong tầng văn hoá. Họ đã chạm vào kim loại mà chưa làm ra được đồ dùng bằng kim loại.1

Người Phùng Nguyên ở nhà dựng trên cọc — biết được nhờ những lỗ cột còn in trong đất, dày tới mức một ô khai quật mười mét nhân mười mét đếm được 356 lỗ. Dày như vậy thì không phải nhà cho từng hộ nhỏ mà là nhà lớn cho cả một đại gia đình hoặc một dòng họ. Họ trồng lúa: dấu tích lúa tìm được ở Tràng Kênh và ở Đồng Đậu. Xương thú trong di chỉ có cả loài đã thuần hoá, còn dấu vết săn bắn và đánh cá thì ít — hàm ý cái ăn chủ yếu đến từ đồng ruộng chứ không từ rừng.2

Người khai quật Phùng Nguyên còn đưa ra một lập luận đáng cân nhắc. Sông Hồng có lưu lượng trung bình khoảng 4.000 mét khối mỗi giây, lúc lớn nhất lên tới 30.000; muốn sống bên một con sông như thế thì phải trị nó, mà trị nó thì vượt quá sức một nhà hay một xóm. Từ đó ông cho rằng người Phùng Nguyên hẳn đã tổ chức thành liên minh làng xã hoặc lớn hơn thế. Cần nói rõ: đây là suy luận từ điều kiện tự nhiên chứ không phải thứ đào được lên — hợp lý, nhưng không phải bằng chứng.2

Lập luận nối Phùng Nguyên với Văn Lang dựa trên ba điểm: nơi di chỉ dày đặc nhất trùng với vùng Phong Châu mà truyền thuyết đặt làm kinh đô; hai khung niên đại chồng lấn lên nhau; và truyền thuyết nói vua Hùng chia nước thành mười lăm bộ giao cho các em, gợi ý một liên minh nhiều nhóm người, mà khảo cổ cũng thấy các nhóm sống gần nhau, kỹ thuật giống nhau nhưng khác ở vài loại công cụ. Nhưng chính nhà khảo cổ đưa ra ba lập luận ấy lại tự viết câu kết luận rằng không tìm thấy sự khớp hoàn toàn giữa văn hoá Phùng Nguyên và Văn Lang, song cũng không thể bỏ qua sự chồng lấn về niên đại.2

Ông còn đi xa hơn. Ngay trong bài viết năm 1980, khi nhắc tới mười tám đời vua Hùng, ông ghi thẳng rằng điều này vẫn còn tranh cãi và con số mười tám có thể là mười tám tên gọi khác nhau của cùng một triều đại chứ không phải mười tám đời vua. Cái còn thiếu vẫn là một dòng chữ nào cùng thời gọi tên vùng đất ấy: không hiện vật nào khắc chữ Văn Lang, và sự trùng khớp giữa khảo cổ với truyền thuyết là trùng khớp về chỗ và về quãng thời gian, không phải về tên gọi.2

Được nhắc trong

  1. Tập 5Từ gốm tới đồng: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun6 phút

Nguồn của trang này

Mỗi dòng hồ sơ và mỗi đoạn dưới đây dẫn về một tài liệu trong danh sách này. Cách chúng tôi chọn và kiểm nguồn